|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 212/2024/HNGĐ-ST Ngày 04/12/2024 V/v tranh chấp ly hôn, con chung. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
- - Ông Huỳnh Văn Hoàn
- - Thư ký phiên tòa: Ông Mai Quốc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 485/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1985. (có mặt)
- Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Phạm Thùy V, sinh năm 1990. (có mặt)
- Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của bị đơn chị Nguyễn Phạm Thùy V do Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam - Cơ quan Thường trực phía Nam giới thiệu 02 luật sư gồm:
- Luật sư Huỳnh Thị Phương N – Công ty L1 - Thuộc đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh
- Luật sư Nguyễn Thị H – Công ty L2 -Thuộc đoàn Luật sư thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 15/8/2024 và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Lê Văn S trình bày: Anh và chị V xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính tình nên vợ chồng hay cự cải, vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Nguyễn An N1, sinh ngày 12/11/2020 và Lê Nguyễn An K, sinh ngày 15/5/2023.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay anh Lê Văn S yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Phạm Thùy V, yêu cầu nuôi cháu Lê Nguyễn An N1 không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con, giao cháu Lê Nguyễn An K cho chị V nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ trên một con chung cho đến khi con chung trưởng thành tròn 18 tuổi lao động được.
Tại bản tự khai, bản trình bày ý kiến cùng ngày 04/11/2024 và tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Nguyễn Phạm Thùy V trình bày: Chị và anh Lê Văn S xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2018, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẹ chồng muốn anh S quay lại với vợ cũ, nói nghi ngờ cháu K không phải con của anh S là xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị, chị kể cho anh S nghe nhưng anh S không quan tâm và đuổi chị về nhà cha mẹ ruột sống khi chị đang mang thai, vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Nguyễn An N1, sinh ngày 12/11/2020 và Lê Nguyễn An K, sinh ngày 15/5/2023.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay chị Nguyễn Phạm Thùy V không đồng ý ly hôn theo yêu cầu anh Lê Văn S. Nếu Tòa án cho ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con chung, anh S cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ trên một con chung cho đến khi con chung trưởng thành, tròn 18 tuổi và lao động được, yêu cầu anh S hỗ trợ sức khỏe cho chị số tiền 100.000.000₫ và hỗ trợ vốn cho chị buôn bán sinh sống nuôi con số tiền 100.000.000đ, tổng cộng 200.000.000₫.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có lý lẽ cho rằng: Thống nhất ý kiến yêu cầu trình bày của chị Nguyễn Phạm Thùy V, tuy nhiên nếu Tòa án xét thấy mâu thuẫn anh S chị V trầm trọng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được và cho ly hôn, thì đề nghị Tòa án ghi nhận phía anh S cũng thống nhất giao cháu N1 và cháu K cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng, anh S cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000₫ trên mỗi cháu cho đến khi các con chung trưởng thành, lao động được; Tại phiên tòa chị V yêu cầu anh S hỗ trợ số tiền 100.000.000₫ để có vốn buôn bán sinh sống và hỗ trợ sức khỏe cho chị 100.000.000đ, tổng cộng 200.000.000₫ nhưng anh S tự nguyện hỗ trợ 100.000.000đ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của chị V cũng như khả năng kinh tế của anh S để có quyết định phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, bị đơn chị Nguyễn Phạm Thùy V cư trú: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, tranh chấp ly hôn giữa anh L và chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, anh Lê Văn S và chị Nguyễn Phạm Thùy V trình bày thống nhất, do quen biết anh chị tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14 vào ngày 13/3/2018, đây là hôn nhân hợp pháp, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ tháng 10 năm 2022 đến nay, nguyên nhân theo anh S do vợ chồng không hợp tính tình, thường cãi vã hôn nhân không hạnh phúc nên anh yêu cầu ly hôn chị V; Còn chị V cho rằng nguyên nhân mẹ chồng muốn anh S quay lại với vợ cũ, nghi ngờ cháu K không phải con của anh S là xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị, chị kể cho anh S nghe nhưng anh S không quan tâm và đuổi chị về nhà cha mẹ ruột sống khi chị đang mang thai, chị không đồng ý ly hôn. Xét thấy, thời gian anh, chị ly thân đến nay đã lâu, anh S và chị V không còn quan tâm chăm sóc nhau, tại phiên tòa anh S cương quyết ly hôn, chị V không đồng ý ly hôn tuy nhiên toàn bộ chứng cứ chị V cung cấp có trong hồ sơ vụ án được công khai tại phiên tòa cũng như lời trình bày của chị V tại phiên Tòa đã đủ chứng minh hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận cho anh S được ly hôn với chị V là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh S và chị V có 02 con chung tên Lê Nguyễn An N1, sinh ngày 12/11/2020 và Lê Nguyễn An K, sinh ngày 15/5/2023, anh S yêu cầu nuôi cháu N1 sau khi ly hôn, còn chị V trình bày, trường hợp Tòa án cho ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung. Tại phiên Tòa hôm nay anh S cũng thống nhất giao 02 con chung cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu N1 và cháu K hiện nay còn nhỏ và từ khi ly thân đến nay các cháu sống với chị V, các cháu được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh, để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý cũng như đảm bảo cuộc sống và sự phát triển bình thường của các cháu nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất của anh S, chị V, giao cháu N1 và cháu K cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa hôm nay anh S, chị V thống nhất anh S cấp dưỡng nuôi con cùng chị V mỗi tháng 2.000.000đ trên mỗi con chung cho đến khi cháu N1 và cháu K trưởng thành, tròn 18 tuổi, lao động được là phù hợp quy định Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Tại phiên Tòa hôm nay, chị V yêu cầu anh S hỗ trợ sức khỏe cho chị số tiền 100.000.000đ và hỗ trợ vốn cho chị buôn bán sinh sống nuôi con số tiền 100.000.000đ, tổng cộng 200.000.000đ phía anh S không đồng ý, anh cho rằng anh không có khả năng kinh tế vì anh không có nghề nghiệp ổn định, anh đi làm thuê kiếm tiền nuôi sống bản thân và cấp dưỡng cho các con của anh gồm con vợ trước và 02 con chung với chị V, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay anh tự nguyện hỗ trợ cho chị V sau khi ly hôn số tiền 100.000.000đ, anh giao tiền cho chị V vào ngày 04/3/2025. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị V trực tiếp nuôi con chung, bản thân chị không có nghề nghiệp ổn định nên yêu cầu của chị V cũng phù hợp, tuy nhiên số tiền chị yêu cầu ngoài khả năng kinh tế của anh S, hơn nữa tại phiên Tòa chị V xác nhận anh S không nghề nghiệp ổn định, anh đi làm thuê và hiện anh S còn sống với cha mẹ ruột không có tài sản riêng, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh S hỗ trợ cho chị V sau khi ly hôn số tiền 100.000.000đ thực hiện giao tiền vào ngày 04/3/2025 là phù hợp.
[7] Xét lời đề nghị của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Văn S được ly hôn với chị Nguyễn Phạm Thùy V.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Nguyễn An N1, sinh ngày 12/11/2020 và Lê Nguyễn An K, sinh ngày 15/5/2023 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Anh Lê Văn S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ trên một con chung cho đến khi các cháu Lê Nguyễn An N1 và Lê Nguyễn An K trưởng thành, tròn 18 tuổi lao động được. Thực hiện cấp dưỡng từ ngày tuyên án (ngày 04/12/2024).
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Ghi nhận anh Lê Văn S tự nguyện hỗ trợ cho chị Nguyễn Phạm Thùy V số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), thực hiện giao tiền vào ngày 04/03/2025.
- Về án phí: Anh Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, 300.000đ án phí cấp dưỡng và 5.000.000đ án phí dân sự, tổng cộng 5.600.000₫ anh đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016920 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên phải nộp tiếp 5.300.000đ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh S được quyền tới thăm nom con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kim Ngọc |
Bản án số 212/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 212/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa S và V
