|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 215/2024/HSST Ngày: 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
-
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Chương Dương
Bà Nguyễn Thị Thụy
-
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 05/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 206/2024/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Viết N; Sinh năm: 1984; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, C, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 8/12; Con ông: Nguyễn Viết V (Đã chết); Con bà: Trịnh Thị G; Vợ: Vũ Thị H; Bị cáo có 02 người con: con lớn sinh năm 2009, con thứ hai sinh năm 2020; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Đỗ Huy T; Sinh năm: 1989; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, C, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; Con ông: Đỗ Huy B; Con bà: Đỗ Thị G1; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Sinh năm: 1986; ĐKHKTT: Xóm I, xã T, huyện X, Nam Định; Nơi ở: P A TT T, phường T, quận B, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 9/12; Con ông: Nguyễn Thế K (đã chết); Con bà: Phạm Thị D; Vợ: Trần Thị H1; Bị cáo có 03 người con: con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Lê Quốc H2; Sinh năm: 1985; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, C, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Con ông: Lê Quốc S; Con bà: Phạm Thị T1; Vợ: Nguyễn Thị H3; Bị cáo có 01 con sinh năm 2011; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Ngô Văn S1; Sinh năm: 1972; ĐKHKTT: Ấp T, xã T, C, Hậu Giang; Nơi ở: Số A ngõ A N, phường T, quận B, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 0/12; Con ông: Ngô Văn M; Con bà: Trần Thị N1; Vợ: Trần Thị T2; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con thứ hai sinh năm 1997; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Lê Quang A; Sinh năm: 1984; ĐKHKTT: TDP V, thị trấn P, P, Thừa Thiên H4; Nơi ở: P E TT T, phường T, quận B, Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 5/12; Con ông: Lê Quang U (Đã chết); Con bà: Huỳnh Thị Q; Vợ: Nguyễn Thị Hoài T3; Bị cáo có 02 người con: con lớn sinh năm 2009, con thứ hai sinh năm 2015; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/6/2024; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Ngô Văn S1, Nguyễn Văn Đ, Lê Quốc H2, Lê Quang A bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 01h25' ngày 13/6/2024, tại P104 A tập thể T, phường B, Hà Nội, Tổ công tác Đ3 phối hợp với Công an phường T đã phát hiện, bắt quả tang 06 đối tượng gồm: Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A có hành vi Đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi Liêng. Tại thời điểm bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá (đã qua sử dụng) và số tiền 10.610.000 đồng. Trong đó: Tiền “gà” trên sới là 140.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Nguyễn Viết N là 3.320.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Ngô Văn S1 là 200.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Lê Quốc H2 là 1.260.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Nguyễn Vặn Đ1 là 2.160.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Đỗ Huy T là 1.830.000 đồng; T4 chiếu bạc trước mặt Lê Quang A là 1.700.000 đồng. Ngoài số tiền trên chiếu bạc và bộ bài tú lơ khơ 52 lá, Công an còn thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Viết N: 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng, số sim 0965973263 và 5.000.000 đồng
- Thu giữ của Lê Quang A: 01 điện thoại di động Vsmart Joy 3, số sim 0342674136.
- Thu giữ của Lê Quốc H2: 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu xanh, số sim 0346107626;
- Thu giữ của Đỗ Huy T: 2.500.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, số sim 0969514345;
- Thu giữ của Nguyễn Văn Đ: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số sim 0949226256;
- Thu giữ của Ngô Văn S1: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A01 màu đen, số sim 1 0345845189, số sim 2 0347550437
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng cùng khai nhận: Khoảng 22h30' ngày 12/6/2024, sau khi đi ăn uống cùng nhau, 06 đối tượng (có lai lịch như trên) cùng về phòng trọ của Đ và H2 tại địa chỉ P A Tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội để nghỉ ngơi. Tại đây cả 06 đối tượng cùng thống nhất đánh bạc được thua bằng tiền mặt dưới hình thức chơi Liêng. Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá có sẵn tại phòng trọ để đánh bạc đến 01h20 phút sáng ngày 13/6/2024 thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Cách thức đánh bạc: Khi bắt đầu ván, tất cả 06 đối tượng phải đặt cược một số tiền nhất định (gọi là gà, quy định mỗi một ván đánh mỗi người phải góp gà 10.000 đồng). Sau đó, người đóng vai chương (hay còn gọi là cái, là người thắng của ván trước) sẽ chia cho những người còn lại mỗi người 3 quân bài cho tất cả mọi người theo chiều kim đồng hồ. Lúc này, bắt đầu tính từ người được cầm cái theo vòng kim đồng hồ để thực hiện tố bài (tố bài có nghĩa là bài người đó có điểm cao, khả năng thắng cao, người đến lượt tố quy định sẽ phải vào thêm gà ít nhất là 10.000 đồng và cao nhất 100.000 đồng) rồi tiếp tục tính theo vòng kim đồng hồ đến người tiếp theo, người tiếp theo được quyền theo (là vào bằng tiền của người tố phía trước mình) hoặc bỏ bài (là úp bài không đánh nữa và chấp nhận mất 10.000 đồng gà từ đầu). Cứ như thế sẽ tính đến người ngồi cuối cùng thì thôi. Nếu người cuối cùng bài to hơn và muốn tố cao hơn người ngồi đằng trước thì vòng chơi sẽ tiếp tục đến khi có người chơi bỏ bài còn lại một người hoặc còn ít nhất 02 người mà 02 người này có cùng số tiền tố vào gà bằng nhau thì sẽ mở bài và tính điểm với nhau, ai thắng sẽ là người được cầm hết số tiền gà và tiền tố về và cầm bài của tất cả mọi người để chia ván mới.
Cách tính điểm của L sẽ như sau: Mỗi người được chia 03 lá bài ngẫu nhiên trong bộ bài tú lơ khơ 52 lá. Điểm sẽ được tính là tổng điểm của 03 lá bài từ 1 đến K. Lá bài J, Q, K sẽ được tính là 0 điểm (ví dụ có 03 lá bài 1,7,J thì sẽ tính là bài đó 8 điểm) nếu 03 lá bài cộng ra là 10 điểm thì sẽ tính bài đó không có điểm. Thực tế điểm sẽ so sánh từ cao đến thấp nhỏ nhất là 0 và lớn nhất là 9. Ngoài ra khi đánh bài còn có L (có nghĩa là người chơi cầm được 3 lá bài sát với nhau nhất tạo thành một dây bài liền nhau ví dụ như: 6-7-8 hoặc 10-J-Q) bài liêng sẽ là bài được tính là lớn hơn bài có điểm, khi có 02 người cùng L thì sẽ tính người có lá bài cuối cùng của dây to hơn thì thắng. Nếu 02 lá bài cuối của dây của cả 2 người bằng nhau thì sẽ tính chất trên lá bài để xem ai thắng (chất sẽ được tính từ to xuống thấp như sau: Rô, C, T5, B1, ví dụ 02 người đều cầm bài Liêng 6-7-8 thì người cầm 8 rô sẽ được tính là thắng người cầm 8 cơ hoặc 8 tép). Người cầm bài mà cả 03 lá bài đều là lá bài không số (nghĩa là J1 thì người đó tính là “Đĩ” có nghĩa là bài của người đó sẽ lớn hơn bài người có điểm từ 1 đến 9 và nhỏ hơn bài người cầm Liêng và sáp. Bài của người cầm sáp có nghĩa là 03 lá bài của người này đều như nhau ví dụ như cầm 03 lá 6 hoặc 03 lá 8. Sáp được tính sẽ lớn hơn L, Đ2, và điểm. Nếu 02 người có cầm sáp trong 1 ván đấu thì sẽ tính sáp của ai to hơn thì sẽ thắng. Và nếu người cầm sáp sau mà thắng được cầm cả tiền gà thì mỗi người chơi còn lại phải mất thêm 100.000 đồng cho người cầm bài sáp.
Về số tiền thu giữ được của N (5.000.000 đồng) và T (2.500.000 đồng), hai đối tượng cùng khai nhận: số tiền này sẽ được 02 đối tượng dùng để đánh bạc.
Đối với anh Thạch Văn N2 (SN: 1974, Trú tại: số A ngõ C, tổ A D, phường D, Cầu G, H5) - là chủ cơ sở sửa chữa xe máy V tại P A Tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội. Do Đ và H2 làm thuê cho anh N2, nhà ở xa nên anh N2 thuê phòng 104 A2 Tập thể Thành Công, phường T, B, Hà Nội cho Đ và H2 ở. Anh N2 không biết về việc Đ và H2 sử dụng để làm địa điểm đánh bạc nên không có căn cứ xử lý anh N2.
Tại cáo trạng số 203 /CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi đánh bạc và xin được giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.
Nhân thân các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A đều chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 65, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Nguyễn Viết N mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Đỗ Huy T mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Lê Quốc H2 mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Nguyễn Văn Đ mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; Ngô Văn S1 mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, Lê Quang A mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu đỏ (Đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo Nguyễn Viết N 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng, số sim 0965973263; Trả lại bị cáo Lê Quang A 01 điện thoại di động Vsmart Joy 3, số sim 0342674136; Trả lại bị cáo Lê Quốc H2 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu xanh, số sim 0346107626; Trả lại bị cáo Đỗ Huy T 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, số sim 0969514345; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số sim 0949226256; Trả lại bị cáo Ngô Văn S1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A01 màu đen, số sim 1 0345845189, số sim 2 0347550437 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 18.110.000 đồng do có liên quan đến hành vi phạm tội.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
[2] Nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 1h25' ngày 13/6/2024, tại P104 A2 tập thể T, phường T, quận B, Hà Nội, tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự phối hợp với Công an phường T đã phát hiện, bắt quả tang 06 đối tượng gồm: Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A có hành vi đánh bạc được thua bằng hình thức chơi Liêng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 13/6/2024 là 18.110.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an xã hội, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để đảm bảo răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét nhân thân các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A chưa có tiền án tiền sự, các bị cáo phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng điểm i,s khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Xét các bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam mà có thể cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe.
Các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu đỏ (Đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo Nguyễn Viết N 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng, số sim 0965973263; Trả lại bị cáo Lê Quang A 01 điện thoại di động Vsmart Joy 3, số sim 0342674136; Trả lại bị cáo Lê Quốc H2 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu xanh, số sim 0346107626; Trả lại bị cáo Đỗ Huy T 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, số sim 0969514345; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số sim 0949226256; Trả lại bị cáo Ngô Văn S1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A01 màu đen, số sim 1 0345845189, số sim 2 0347550437 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 18.110.000 đồng do có liên quan đến hành vi phạm tội.
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao nhận vật chứng số: 23 ngày 08/11/2024 và giấy nộp tiền ngày 08/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015; Căn cứ Điều 106; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết N 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Viết N về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Huy T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Huy T về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc H2 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Quốc H2 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ về Ủy ban nhân dân xã T, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn S1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Ngô Văn S1 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Quang A 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Quang A về Ủy ban nhân dân Thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu đỏ (Đã qua sử dụng); Trả lại bị cáo Nguyễn Viết N 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng, số sim 0965973263; Trả lại bị cáo Lê Quang A 01 điện thoại di động Vsmart Joy 3, số sim 0342674136; Trả lại bị cáo Lê Quốc H2 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu xanh, số sim 0346107626; Trả lại bị cáo Đỗ Huy T 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, số sim 0969514345; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, số sim 0949226256; Trả lại bị cáo Ngô Văn S1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A01 màu đen, số sim 1 0345845189, số sim 2 0347550437.
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 18.110.000 đồng (Mười tám triệu một trăm mười nghìn đồng).
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao nhận vật chứng số: 23 ngày 08/11/2024 và giấy nộp tiền ngày 08/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Viết N, Đỗ Huy T, Lê Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Ngô Văn S1, Lê Quang A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 215/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH về tội đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 215/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Văn N, sinh năm 1988; ĐKHKTT: P26 B7TT Thành Công, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Đào Văn L; Họ và tên mẹ: Trần Thị Thu H. Nhân thân: 01 tiền sự, 02 tiền án. - Năm 2002 đi trường giáo dưỡng 12 tháng - Bản án số 595/HSST ngày 27/11/2007, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xử phạt 26 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 15/7/2009. Đã xóa án tích. - Bản án số 167/HSST ngày 30/5/2012, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, xử phạt 44 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Đã xóa án tích. Bị cáo đầu thú ngày 29/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam số 1 – C2. Số giam 4430E2/02. Bị cáo Lê Anh Đ, sinh năm 1999; ĐKHKTT và nơi ở: số E N, tổ D phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Lê Công B; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M; H1 và tên vợ: Nguyễn An T, C 01 con, sinh năm 2020. Nhân thân: 03 tiền sự đã hết thời hiệu. - Ngày 31/5/2017, Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác; - Ngày 04/5/2018, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng; - Ngày 19/10/2018, Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. - Ngày 08/08/2024, Công an quận T khởi tố bị cáo về tội “Đe dọa giết người”. (Tại thời điểm ngày 26/11/2024, vụ án này chưa được xét xử) Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam số 1 – C2. Số giam: 4431E2/24.
