|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc
|
|
Bản án số: 212/2024/HS-ST Ngày: 17-09-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Huệ
- Ông Phan Minh Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 234/2024/HSST ngày 30/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST-HS ngày 04/09/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại tỉnh Sóc Trăng; Hộ khẩu thường trú: khóm V, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Trường G và bà Đỗ Thị Cẩm H; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên KPĂ H’BLÚ và có 01 người con, sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/06/2024 (có mặt).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 2003; địa chỉ: 1 đường số D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn D, sinh năm 2001; địa chỉ: F N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
- Bà KPĂ H’BLÚ, sinh năm 1994; địa chỉ: A tỉnh lộ 8, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, Tổ I, đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 01/2023, Nguyễn Văn T không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T đăng thông tin số điện thoại và bài viết của mình trên mạng xã hội facebook để nhận sửa chữa, lắp đặt cửa nhôm kính. Ngày 22/05/2023, chị Nguyễn Thị Kim Y, ngụ: số A Đường số D, Phường A, quận G gọi điện thoại thuê T lắp cửa nhôm kính thì T nói chị Y kết bạn qua ứng dụng Zalo với T. Sau khi chị Y kết bạn Z có tên "Meo Meo" với tài khoản Zalo của T là "Lãng Tử Miền T2". Chị Y nhắn tin cho T và nói T đến lắp một cửa nhôm kính tại địa chỉ số A Đường số D, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và thống nhất số tiền, làm cửa nhôm kính với giá là 3.000.000 đồng. Lúc này, T nhận thấy chị Y không biết T là ai nên T sẽ đến giả vờ đo cửa, báo giá để lấy tiền rồi tẩu thoát. Để dễ dàng thực hiện hành vi, T thuê Lê Văn D có tài khoản Zalo tên "Nguyễn Đình D1". T thuê D1 đi phụ lắp cửa nhôm kính với mình, sẽ trả công cho D1 số tiền 500.000 đồng thì D1 đồng ý, sau đó T cho D1 địa chỉ nhà chị Y để gặp nhau. Mục đích của T là lừa D1 đến để khi T nhận tiền thì cho D1 ngồi lại làm tin còn T lấy tiền tẩu thoát. Đến ngày 23/05/2023, T điểu khiển xe mô tô hiệu Honda vision, biển số 81N1-254.11 và D1 điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển số 59S1-186.22 đến gặp nhau tại nhà của chị Y. Tại đây, T và D1 đo cửa cho chị Y rồi T báo giá, thống nhất với chị Y tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Sau khi chị Y đưa cho T 3.000.000 đồng, nhận tiền xong T điều khiển xe rời đi và nói D1 ngồi đợi. Khoảng 1 giờ sau không thấy T quay lại nên D1 gọi điện thoại phát hiện đã bị chặn cả điện thoại và zalo. Lúc này, chị Y biết bị lừa nên đã trình báo tại Công an P, quận G.
Quá trình truy xét, Cơ quan điều tra đã mời Nguyễn Văn T về làm việc và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngày 27/9/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, T bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với T. Ngày 14/06/2024, Cơ quan điều tra bắt được Nguyễn Văn T theo Quyết định truy nã.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu honda vision biển số 81BN1-254.11 (là phương tiện T sử dụng đi lừa đảo). Qua xác minh xe trên do chị K H’BLÚ (vợ của T) đứng tên chủ sở hữu. T khai nhận đã mượn xe của chị KPĂ H'BLÚ đi làm việc, chị KPĂ H'BLÚ không biết T sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị KPĂ H'BLÚ.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 59S1-186.22 (thu giữ của Lê Văn D). Qua xác minh chiếc xe trên do chị Lê Thị T1 đứng tên chủ sở hữu. D khai đã mượn xe của chị T1 đi làm, D không biết việc T thuê mình để thực hiện hành vi lừa đảo. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Lê Thị T1 .
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi là tài sản của D. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho Lê Văn D.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu hồng (bị bể kính, trầy xướt) (T sử dụng nhắn tin thực hiện hành vi lừa đảo).
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo lệnh nhập kho vật chứng số 2047/LNK-ĐTTH ngày 13/08/2024 và phiếu nhập kho vật chứng số 216/PNK ngày 23/08/2024. (BL:125a-125b).
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Kim Y số tiền 3.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 252/CTr-VKS ngày 28/08/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 đến 12 tháng tù.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57.
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
[2] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[3] Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174 của bộ luật hình của Bộ luật hình sự
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối tự nhận mình là thợ nhôm kính đến nhà bị hại Nguyễn Thị Kim Y giả vờ đo đạc để làm cửa nhôm kính rồi chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng của bị hại sau đó bỏ trốn. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật và nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo lao vào con đường phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra, bị cáo chiếm đoạt số tiền của bị hại 3.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là phù hợp qui định pháp luật, Vì vậy đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[5] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 174, của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bị hại Nguyễn Thị Kim Y đã được bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 3.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A57 của bị cáo T sử dụng liên lạc, nhắn tin lừa bị hại. Hội đồng xét xử xét đây là phương tiện phạm tội, nên quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06(sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 14/06/2024.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 216/PNK ngảy 23/08/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Tường Linh |
Bản án số 212/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 212/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
