Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————

Bản án số: 212/2024/DS-ST

Ngày 08 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Mỹ Oanh
  2. Ông Khưu Hán Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ; địa chỉ: B N, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc H, bà Đoàn Diệu T và ông Hoàng Đức T1; địa chỉ: Lầu B, số B L, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 6957/UQ-PVB ngày 19/9/2023); ông H và ông T1 vắng mặt, bà T có mặt.

  1. Bị đơn: Bà Đàm Thị P, sinh năm 1964; địa chỉ: 5 L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1993 và bà Lương Thị Mỹ H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Hộ khẩu thường trú: 506/12 L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: P.302 Lô C chung cư P, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Công ty TNHH W; địa chỉ: C lô B khu L, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH W: Ông Tô Thái B; địa chỉ: C lô B khu L, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2023, các bản tự khai và biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đoàn Diệu T trình bày:

Ngày 23/5/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (gọi tắt là P1) và bà Đàm Thị P có ký kết Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB. Theo đó, P1 đã cho bà Phước vay số tiền là 3.800.000.000 đồng, giải ngân ngày 24/5/2022, thời hạn vay là 144 tháng, trả lãi và nợ gốc hàng tháng vào ngày 20, lãi suất cho vay là 6,8%/ năm.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 đã ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐSĐ02-4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 23/5/2022, để thế chấp tài sản thửa đất như sau:

  • Thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23
  • Địa chỉ: Phường A, Quận A.
  • Diện tích: 84m².
  • Mục đích sử dụng: Làm nhà ở.
  • Thời hạn sử dụng: Ổn định lâu dài.

Thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 00297/2B QSDĐ/2243/UB do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin tài sản ngày 30/8/2019, cập nhật thay đổi chủ sở hữu, chủ sử dụng ngày 27/4/2022 (đứng tên ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1).

Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ1 ngày 28/4/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phước đã vi phạm điều khoản thanh toán, do đó P1 đã gửi thông báo về việc vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước thời hạn đối với khoản vay của bà Phước.

Từ những lý do trên, ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Đàm Thị P phải thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày xét xử 08/8/2024 như sau:

  • Nợ vốn gốc: 3.536.051.520 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn: 586.002.892 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 08/8/2024: 56.643.590 đồng.
  • Lãi chậm trả tạm tính đến ngày 08/8/2024: 37.713.056 đồng.

Tổng cộng: 4.216.413.058 đồng.

Bà Đàm Thị P còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB tính kể từ ngày 09/8/2024 đến khi trả hết nợ.

Trường hợp bà Đàm Thị P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì P1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin ngày 30/8/2019 và ngày 27/4/2022, thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 28/4/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐSĐ02-4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 23/5/2022, đã đăng ký thế chấp ngày 28/4/2022.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đàm Thị P vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho đến khi trả hết khoản nợ cho P1.

Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời điểm cho vay, các bên đã có thỏa thuận như sau: “……mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với tài sản nêu trên đều thuộc tài sản thế chấp và đều bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo đảm ...” (quy định tại khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐSĐ02-4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 23/5/2022). Qua buổi xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân Quận 11 thì các cơ quan có thẩm quyền đã xác định được là phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có giấy phép xây dựng và đã hoàn thành xây dựng nhưng chưa hoàn công do xây dựng có sai phạm nên không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Do phần này phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với giá trị tài sản là phần xây dựng nên phía nguyên đơn không có ý kiến khác. P1 đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp, giải quyết chấp nhận cho nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý phần tài sản, công trình xây dựng gắn liền với quyền sử dụng đất để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt, không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của phía bị đơn.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Q, bà Lương Thị Mỹ H1 và Công ty TNHH W không có yêu cầu độc lập và không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 11 không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2024 đối với tài sản thế chấp là Thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, Tòa án và các cơ quan chức năng của Ủy ban nhân dân Quận A xác định chủ sử dụng đất đã xây dựng nhà trên đất bao gồm tầng trệt, tầng lửng, lầu 1, lầu 2 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (có Giấy phép xây dựng số 12/GPXD do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 03/01/2000 và Quyết định cấp số nhà số G-UB ngày 22/02/2000). Hiện trạng nhà đang trống, không có người cư trú; có treo biển hiệu Winwind Design and C (Công ty TNHH W) nhưng thực tế không hoạt động, không có nhân viên làm việc.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định nội dung tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thời hiệu khởi kiện; tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; việc cấp, tống đạt và giao nhận văn bản tố tụng dân sự chưa đúng quy định của pháp luật. Cụ thể là Tòa án đã chậm tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; chậm đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; thủ tục tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự luật định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Việc Hội đồng xét xử tiến hành việc xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi đã tống đạt hợp lệ cho đương sự là đúng thủ tục tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Đàm Thị P thanh toán số nợ bao gồm tiền vốn gốc và tiền lãi theo quy định. Trường hợp bà Đàm Thị P không trả được nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 23/5/2022 được ký kết giữa P1 và bà Đàm Thị P, theo đó, bà Phước đã vay của P1 số tiền tổng cộng là 3.800.000.000 đồng, thời hạn vay là 144 tháng tính từ giải ngân, trả lãi và nợ gốc hàng tháng vào ngày 20, lãi suất cho vay là 6,8%/ năm, mục đích vay là để mục đích vay là để hoàn vốn mua bất động sản. Do bà Đàm Thị P không trả nợ vay nên P1 khởi kiện. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về pháp luật nội dung được áp dụng:

P1 và bà Đàm Thị P ký kết Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 23/5/2022. Do hợp đồng được các bên xác lập là hợp đồng tín dụng, được xác lập từ ngày 23/5/2022 và đang thực hiện; vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Bộ luật Dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm để giải quyết vấn đề về lãi, lãi suất và phạt vi phạm.

[3] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn – bà Đàm Thị P cư trú tại số nhà E L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn và phù hợp với kết quả xác minh của Công an P2, Quận A: “Tại địa chỉ 5 L, Phường E, Quận A hiện có bà Đàm Thị P, sinh năm 1964 đang thực tế cư trú ...".

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng thực tế không còn cư trú tại địa chỉ 5 L, Phường E, Quận A từ năm 2022, không rõ nơi cư trú của ông Q và bà H1, theo kết quả cung cấp thông tin ngày 07/12/2023 của Công an P2, Quận A. Đương sự Nguyễn Đình Q và Lương Thị Mỹ H1 cung cấp địa chỉ liên lạc tại số P Lô C chung cư P, Phường A, Quận A. Tuy nhiên, tại các lần Tòa án triệu tập đương sự đến Tòa án để giải quyết vụ án thì đương sự không đến.

Tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khỏi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”.

Nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho Công an P2, Quận A và nguyên đơn nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo thủ tục chung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH W do ông Tô Thái B đại diện theo pháp luật có đăng ký kinh doanh tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo kết quả cung cấp thông tin ngày 07/3/2024 của Công an P3, Quận A và của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H. Tuy nhiên, tại các lần Tòa án triệu tập đương sự đến Tòa án để giải quyết vụ án thì đương sự không đến.

Tòa án đã niêm yết tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ nhất cho đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 11/7/2024 đương sự vắng mặt. Tòa án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa hôm nay đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[4] Về việc xem xét các chứng cứ:

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Điều 261 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác”. Phía nguyên đơn không có ý kiến gì về các tài liệu, chứng cứ của vụ án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên thuộc trường hợp đương sự tự từ bỏ quyền chứng minh, yêu cầu của mình, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét các ý kiến, yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Việc đương sự không tham gia phiên tòa để nghe công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật Tố tụng dân sự và không tham gia tranh luận, phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án theo Điều 261 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đương sự đã tự từ bỏ quyền chứng minh, quyền kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án.

Phía nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ phù hợp với kết quả Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt, tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có văn bản phản hồi hay phản đối các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Căn cứ khoản 2 Điều 92, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị làm chứng cứ để giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử sử dụng các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập được làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

5.1. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:

Nguyên đơn căn cứ Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 23/5/2022, xác định đã giải ngân cho bị đơn số tiền 3.800.000.000 đồng vào ngày 24/5/2022; quá trình thực hiện hợp đồng thì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy bản sao Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 23/5/2022 do nguyên đơn cung cấp là bản sao do nguyên đơn xác nhận nhưng phù hợp với các chứng cứ khác đã được Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến phản đối các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nên được sử dụng làm căn cứ để xác định giữa hai bên có xác lập quan hệ hợp đồng. Tại các Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án nhân dân Quận 11 đã thông báo rõ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhưng phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có văn bản phản hồi ý kiến nên Tòa án không thể bảo vệ quyền lợi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn và tính đến nay bị đơn còn nợ số tiền vay theo như lời trình bày của nguyên đơn.

Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng."

Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.”.

Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB ngày 23/5/2022 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Nguyên đơn đã giải ngân đầy đủ số tiền vay gốc cho bị đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà Đàm Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho P1 nợ gốc và nợ lãi cụ thể như sau:

  • Nợ vốn gốc: 3.536.051.520 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn: 586.002.892 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 08/8/2024: 56.643.590 đồng.
  • Lãi chậm trả tạm tính đến ngày 08/8/2024: 37.713.056 đồng.

Tổng cộng: 4.216.413.058 đồng.

Bà Đàm Thị P còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay số 4605/2022/NĐTD/PVB-CN.GD-TTB tính kể từ ngày 09/8/2024 đến khi trả hết nợ.

5.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là Thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23, 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin ngày 30/8/2019 và ngày 27/4/2022, thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1:

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin ngày 30/8/2019 và ngày 27/4/2022, thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 28/4/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐSĐ02-4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 23/5/2022, đã đăng ký thế chấp ngày 28/4/2022. Tài sản này được người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 thế chấp cho nguyên đơn hợp pháp, có đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 28/4/2022. Tại thời điểm thực hiện hợp đồng, việc ký kết hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 298, Điều 317, Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có thông tin hay khiếu nại về việc tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba; bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở do nguyên đơn đang giữ; việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không trả nợ.

Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng, nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm cả quyền sử dụng đất và tài sản, công trình gắn liền với đất), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin ngày 30/8/2019 và ngày 27/4/2022 để thu hồi nợ.

Trường hợp, khi phát mãi tài sản thế chấp sau khi thanh toán các nghĩa vụ trả nợ và các chi phí khác mà còn dư tiền thì số tiền còn dư sẽ được trả lại cho chủ sở hữu có tài sản thế chấp trên.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đàm Thị P vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

Trong trường hợp bà Đàm Thị P hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 thanh toán xong tất cả các khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì P1 có nghĩa vụ tiến hành ngay thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ đã giữ của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 liên quan đến tài sản thế chấp thửa đất nêu trên, trừ trường hợp ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 còn có nghĩa vụ khác đối với P1.

Đối với tài sản trên đất là căn nhà bao gồm tầng trệt, tầng lửng, lầu 1, lầu 2 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (có Giấy phép xây dựng số 12/GPXD do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 03/01/2000 và Quyết định cấp số nhà số G-UB ngày 22/02/2000), do các bên đương sự không có ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ cho ngân hàng được thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp và theo quy định chung của pháp luật về đất đai.

[6] Xét ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các văn bản tố tụng bao gồm: Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền vay cho nguyên đơn, không nêu ý kiến về việc xử lý tài sản thế chấp. Như vậy, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự tước bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét các ý kiến và các yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án:

Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên về việc Tòa án chậm tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và việc Tòa án chậm đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đàm Thị P thanh toán số nợ vốn gốc và nợ lãi; trường hợp bà Đàm Thị P không trả được nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

[8] Về án phí:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 4.216.413.058 đồng và được Tòa án chấp nhận. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.216.413 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm mười sáu nghìn bốn trăm mười ba đồng).

[9] Về xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ngày 28/12/2023, Tòa án đã ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Ngày 23/01/2024, Tòa án đã phối hợp cùng với các cơ quan địa phương tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp tại địa chỉ số C lô B khu L, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã đóng tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng được Tòa án chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị đơn phải gánh chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 298, Điều 317, Điều 319, Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2018;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc buộc bà Đàm Thị P thanh toán nợ vay.

Buộc bà Đàm Thị P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền là 4.216.413.058 đồng (bốn tỷ hai trăm mười sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn không trăm năm mươi tám đồng). Bao gồm nợ vốn gốc là 3.536.051.520 đồng; tiền nợ lãi trong hạn là 586.002.892 đồng; tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 56.643.590 đồng và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 08/8/2024 là 37.715.056 đồng.

Trong trường hợp bà Đàm Thị P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 21, Tờ bản đồ số 23 tại địa chỉ 31 lô B khu Lê Thị R, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm cả quyền sử dụng đất và tài sản, công trình gắn liền với đất), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P482700 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 20/7/2000, cập nhật thông tin ngày 30/8/2019 và ngày 27/4/2022, thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 28/4/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐSĐ02-4404/2022/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ-TTB ngày 23/5/2022.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý, phát mại tài sản thế chấp, sau khi thanh toán các nghĩa vụ trả nợ và các chi phí khác mà còn dư tiền thì số tiền còn dư sẽ được trả lại cho chủ sở hữu, chủ sử dụng có tài sản thế chấp là ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đàm Thị P vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.

Trong trường hợp bị đơn là bà Đàm Thị P hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 thanh toán xong tất cả các khoản nợ đối với phía Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có nghĩa vụ tiến hành ngay thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ đã giữ của ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 liên quan đến tài sản thế chấp, trừ trường hợp ông Nguyễn Đình Q và bà Lương Thị Mỹ H1 còn phải thực hiện nghĩa vụ khác đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

  1. Về án phí:

Bà Đàm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 112.216.413 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm mười sáu nghìn bốn trăm mười ba đồng).

H2 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 53.416.140 đồng (năm mươi ba triệu bốn trăm mười sáu nghìn một trăm bốn mươi đồng) theo Biên Lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021714 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về chi phí tố tụng khác:

Buộc bà Đàm Thị P phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã thanh toán trước số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

  1. Các quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đàm Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà bà Đàm Thị P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Trong trường hợp bản án, được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  1. Về quyền kháng nghị:

Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 212/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger