|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 212/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 7 - 2024.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 05 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh A, sinh năm 1990 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số 214 B, xã B, huyện T, tỉnh L.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 02 tháng 05 năm 2024 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh Nh chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bà xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh Nh.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, bà Phạm Thị Thanh A có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng ông Nguyễn Thanh Nh vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Phạm Thị Thanh A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Nh, ông Nhung hiện thường trú tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L nên Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh A xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh Nh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh A và ông Nguyễn Thanh Nh chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Hoà Thượng, huyện Đ, tỉnh L, số đăng ký kết hôn 180/2015, quyển số 01/2015 ngày 22/10/2015 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, bà An cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với ông Nhung, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của bà An nhưng ông Nhung không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà An. Tại phiên tòa, ông Nhung vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà An và ông Nhung là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Bà Nhung trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Nhung không có văn bản phản hồi ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông Nhung có tranh chấp về con chung thì khởi kiện trong một vụ án khác.
[5]. Về tài sản chung: Bà An trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Nhung không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông Nhung có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[6]. Về nợ chung: Bà An trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Nhung không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông Nhung có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[7]. Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 5, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh A đối với ông Nguyễn Thanh Nh về việc “Ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh A được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Nh.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông Nhung có tranh chấp về con chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Thanh A trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông Nhung có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Về nợ chung: Bà Phạm Thị Thanh A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông Nhung có tranh chấp nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
-
Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh A chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, sung công quỹ nhà nước. Bà An được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí nộp tại biên lai thu số 0001091 ngày 03/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh L để thi hành.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 212/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 212/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A ly hôn Nh
