Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 212/2023/HSST

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Ông Phạm Bá Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2023/TL - HSST ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Âu Đức H, sinh năm: 1976; ĐKHKTT: số F, tổ A, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A ngõ A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Âu Văn A và bà Trần Mai T; Vợ: Nguyễn Thanh H1; Con: 02 con, con lớn 21 tuổi, con bé 14 tuổi; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án

  • - Bản án số ngày 31/01/2008, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng. Bản án số 211 ngày 09/04/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù. Ra trại ngày 01/9/2009. Chấp hành xong án phí ngày 13/5/2008 và bồi thường dân sự ngày 19/5/2008 (đã xóa án tích)

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023. (Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A1, sinh năm: 1971; ĐKHKTT và nơi ở: Số A ngõ B Đ, L, B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã mất) và bà Nguyễn Thị M (đã mất); Vợ: Vũ Tuyết M1; Con: 01 con 28 tuổi; Tiền án, tiền sự: 04 tiền án, 01 tiền sự

  • - Bản án số 443 ngày 11/9/1997, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.700.000 đồng). Bản án số 728 ngày 29/10/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 tháng. (đã xóa án tích)
  • - Bản án số 58 ngày 04/5/1999, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.100.000 đồng). (đã xóa án tích)
  • - Bản án số 162 ngày 19/6/1999, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 400.000 đồng). Tổng hợp hình phạt của bản án số 728/29.10.1997 và bản án số 58/04.5.1999 buộc phải chấp hành hình phạt chung là 32 tháng tù. Ra trại ngày 21/5/2001. (đã xóa án tích)
  • - Bản án số 119 ngày 27/5/2010 Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 30/01/2016. Chấp hành xong án phí ngày 20/9/2010 (đã xóa án tích)

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023. (Có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Mai Xuân D, sinh năm: 1974; ĐKHKTT: Phòng 18 B4 TT G, G, B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Anh C và bà Nghiêm Thị N; Vợ: Triệu Thị N1; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2018, con bé sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Chưa tiền án, tiền sự

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Số giam: 4861 C2, Buồng giam: 17 (Có mặt tại phiên tòa)

* Người liên quan: Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm: 1979; ĐKHKTT và nơi ở: Số A V phường V, quận B, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1: Luật sư Nguyễn Đức B, Luật sư Lê Văn Đ – Văn phòng L – Đoàn Luật sư thành phố H. (Luật sư B có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1, Mai Xuân D bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19h00 ngày 31/1/2023, Nguyễn Mạnh H2 (sinh năm: 1979; HKTT: 109 V, phường V, B, Hà Nội) cùng anh Nguyễn Bá T2 (sinh năm 1966, HKTT: 32 H, N, B, Hà Nội) đến quán C1 số B ngõ B Đ, phường Đ, B, Hà Nội. Đến cửa quán thì H2 nhận ra người quen là anh Đinh Văn P (sinh năm 1977, HKTT: 8/10 ngách B Đ, B, Hà Nội) đang ngồi tại quán bia Phong G bên cạnh nên mời sang quán café ngồi cùng. Khoảng 10 phút sau, Âu Đức H và Nguyễn Tuấn A1 là người quen của anh P tới ngồi cùng uống bia và hát karaoke. Khoảng 21h00 cùng ngày thì xảy ra mâu thuẫn, H2 đứng dậy chỉ vào mặt H rồi cầm cốc thủy tinh ném vào người Hùng nhưng không trúng. Thấy vậy mọi người can ngăn không cho H và H2 đánh nhau.

Tuấn A1 và H lấy xe máy bỏ về thì H2 từ trong quán lao ra túm áo, kéo H lại không cho đi. H, Tuấn A1 lao vào đánh nhau với H2. Mai Xuân D từ quán bia bên cạnh đến can ngăn thì bị H2 chửi bới nên D đã nhặt một viên gạch (Dạng gạch đặc nung xây nhà) đập vào đầu H2 khiến máu chảy từ đỉnh đầu xuống mặt. Lúc này cả Tuấn A1, H, D cùng lao vào đánh H2, H2 vùng ra bỏ chạy về hướng phố Đ và bị H đuổi đánh phía sau. Anh H2 chạy vào trong nhà khách L1 từ cổng 218 Đội Cấn, trốn tại bãi đỗ xe ngoài trời trong khuôn viên nhà khách. H đuổi theo sau thì bị anh Đặng Văn T3 (sinh năm 1982, HKTT: 10 ngõ C Đ, B, Hà Nội) là bảo vệ nhà khách ngăn cản không cho vào nên H quay lại rủ Tuấn A1 và D đi xe máy cùng tìm đánh H2. Tuấn A1 chở H, D được một đối tượng nam giới (Không xác định được nhân thân lai lịch) điều khiển xe máy chở vào nhà khách L từ cổng 226 V. Cả nhóm đi lòng vòng trong sân nhà khách, H tìm thấy anh H2 đang trốn đằng sau đuôi xe ô tô tại bãi đỗ xe ngoài trời nên to tiếng chửi bới, lao vào đấm đá, lôi H2 ra khỏi vị trí trốn. Anh Đặng Văn T3 can ngăn không cho H đánh H2 và đuổi tất cả ra ngoài. H2 không chịu đi nên trong suốt quãng đường di chuyển H to tiếng chửi bới lôi kéo H2 đi về phía cổng 226 V, H đấm đá nhiều cái vào mặt H2, H2 bám vào cổng không chịu ra thì bị H, D, đối tượng nam giới đi cùng to tiếng chửi bới, giằng co lôi ra đấm đá túi bụi nhiều cái vào mặt, người và lôi ra khu vực vỉa hè cách cổng 226 Vạn Phúc khoảng 05 mét, tại đây các đối tượng tiếp tục to tiếng chửi bới, đấm đá đến khi H2 gục xuống đất bất tỉnh thì các đối tượng dừng lại và bỏ đi. Sau đó anh H2 được Cơ quan Công an đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C2 và anh H2 làm đơn tố giác sự việc trên gửi đến Công an quận B

Về thương tích:

Anh H2 bị sưng nề xây xát vùng đỉnh chẩm trái, sưng nề vùng trán 02 bên, gò má 02 bên, bầm tím vùng mắt 02 bên, gãy xương sườn số 10 và 11, xây xát bầm tím cổ, ngực, bụng, lưng, tay. Các bác sỹ tại bệnh viện X cho biết, thời điểm nhập viện trong hơi thở của anh H2 có mùi cồn. Trung tâm pháp y - Sở Y đã kết luận giám định: tỉ lệ tổn hại sức khỏe của anh H2 là 10% (Tính theo phương pháp cộng lùi).

Trong giai đoạn giải quyết đơn, Nguyễn Mạnh H2 đã nhận bồi thường của H, Tuấn A1, D và rút đơn tố giác, yêu cầu Cơ quan điều tra không tiếp tục truy xét các đối tượng trên về hành vi Cố ý gây thương tích.

Nhà khách L1 có Công văn trao đổi về sự việc trên như sau: Khu vực ngoài trời gồm sân, bãi đỗ xe, cửa ra vào cho phép người đến liên hệ hoặc người có nhu cầu sử dụng dịch vụ của nhà khách hoạt động dưới sự kiểm soát của đội An ninh bảo vệ. Vào ngày 31/01/2023, các đối tượng có hành vi to tiếng, đánh nhau gây mất an ninh trật tự, đã ảnh hưởng tới quá trình vận hành, hoạt động bình thường của nhà khách.

Vật chứng thu giữ:

01 đoạn video camera tại khu vực tại khu vực cổng 226 Vạn Phúc ghi lại sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra.

Đối với người đàn ông điều khiển xe máy chở Mai Xuân D để tìm đánh Nguyễn Mạnh H2 tại Nhà khách L1, quá trình điều tra Mai Xuân D khai là người không quen biết, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với anh Nguyễn Mạnh H2 là nguyên nhân dẫn đến sự việc nhưng chưa đến mức xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính với Nguyễn Mạnh H2 về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Cáo trạng số: 192/CT - VKS ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1, Mai Xuân D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1, Mai Xuân D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về hành vi phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ Luật hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo Âu Đức H có 01 tiền án đã được xóa án, bị cáo Nguyễn Tuấn A1 có 04 tiền án đã xóa án nhưng vẫn thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Mai Xuân D không có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 38; Điều 47; Điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với H); Điểm b,s khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Tuấn A1); Điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với D); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Âu Đức H từ 08 tháng đến 10 tháng tù; Bị cáo Nguyễn Tuấn A1 từ 08 tháng đến 10 tháng tù; Bị cáo Mai Xuân D từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người liên quan không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Luật sư Nguyễn Đức B - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Tuấn A1 vì bị cáo chỉ là người vào can ngăn việc đánh nhau giữa anh H2 và bị cáo H. Bị cáo vi phạm trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, đồng thời bị cáo sức khỏe yếu do nhiễm HIV, hiện phải điều trị tại Trung tâm Y tế quận B. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh H2 đã có lỗi, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b,e,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A1 được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Nội dung lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của bộ Luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21h00' ngày 31/01/2023, Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D cùng đuổi anh Nguyễn Mạnh H2 từ trước cửa quán C3 ngõ B phố Đ đến cổng nhà khách La Thành địa chỉ số B phố Đ, anh H2 chạy được vào trong khuôn viên nhà khách trốn tại bãi đỗ xe. H, Tuấn A1 và D bị bảo vệ ngăn lại nên đã vòng ra cổng sau của nhà khách địa chỉ số B V để vào và tìm thấy anh H2 tại bãi đỗ xe ô tô. H, Tuấn A1 và D đã to tiếng và dùng tay chân đánh anh H2. Bảo vệ nhà khách yêu cầu ra ngoài, H, Tuấn A1 và D vừa lôi kéo anh H2 ra ngoài cổng 226 Vạn Phúc, vừa đánh anh H2. Tại lòng đường bên ngoài cổng số 226 nhà khách L, H, Tuấn A1 và D đã đánh anh H2 bất tỉnh. Bị hại là anh Nguyễn Mạnh H2 đã rút đơn không đề nghị xử lý H, Tuấn A1 và D về tội Cố ý gây thương tích. Hành vi của Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D về tội “Gây rối trật tự công cộng”theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộngđược Bộ luật Hình sự bảo vệ; các bị cáo đều đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhậnthức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện là có lỗicố ý thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng.

Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo: Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo Âu Đức H đã có một tiền án về tội Cố ý gây thương tích, bị cáo

Nguyễn Tuấn A1 đã có 04 tiền án, tuy các tiền án đã được xóa án tích nhưng thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu đã được Nhà nước giáo dục cải tạo nhưng vẫn không chịu tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội, do vậy phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Mai Xuân D phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người liên quan. Vì vậy cần thiết áp dụng các điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Đối với bị cáo H); áp dụng các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015(Đối với bị cáo Tuấn A1); áp dụng các điểm b,i,s khoản 1, Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Đối với bị cáo D) để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 đoạn video camera tại khu vực cổng 226 Vạn Phúc ghi lại sự việc (đã được lưu giữ trong hồ sơ).

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 38; Điều 47; điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Đối với bị cáo H); áp dụng các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015(Đối với bị cáo Tuấn A1); áp dụng các điểm b,i,s khoản 1, Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Đối với bị cáo D); Các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố bị cáo Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt:

Bị cáo Âu Đức H 07 (Bảy) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A1 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Mai Xuân D 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2023.

Án phí HSST:

Bị cáo Âu Đức H, Nguyễn Tuấn A1 và Mai Xuân D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại

phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND phường Đội Cấn, phường Liễu Giai, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 212/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Âu Đức H, sinh năm: 1976; ĐKHKTT: số F, tổ A, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A ngõ A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Âu Văn A và bà Trần Mai T; Vợ: Nguyễn Thanh H1; Con: 02 con, con lớn 21 tuổi, con bé 14 tuổi; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger