Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 212/2024/HS-ST

Ngày 09-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Hoạch.

Ông Đinh Xuân Dậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 213/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Văn Q, sinh năm 1992 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ thường trú: 960 đường A, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: TĐ3b, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Hồng V, sinh năm 1972; Có vợ tên Ừng Xuân M, sinh năm 1993; Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang và giam giữ từ ngày 23/3/2024 (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 18 giờ ngày 23/3/2024, Công an xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương, khi đến đường Đ thuộc ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện Mai Văn Q điều khiển xe mô tô biển số 60C2-686.55 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện túi quần phía trước bên phải Q đang mặc có 01 gói nylon bên trong chứa chất màu trắng nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon bên trong chứa chất màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16, gắn sim số 0975711810; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 biển số 60C2-686.55 và số tiền 550.000 đồng. Ngày 24/3/2024, Công an xã S đã chuyển giao hồ sơ, đối tượng cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T để thụ lý điều tra theo thẩm quyền (Bút lục số: 01-06).

Quá trình điều tra Mai Văn Q khai nhận sử dụng ma túy từ tháng 11/2023 đến nay. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Q sử dụng điện thoại di dộng hiệu Vivo Y16, gắn sim số 0975711810 truy cập vào mạng xã hội zalo với tên nick "Hungberu” của Q để liên lạc với đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, H đồng ý và hẹn Q đến khu vực bãi đất trống thuộc ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giao dịch mua bán ma túy. Đến 17 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô biển số 60C2-686.55 đến điểm hẹn và liên lạc với H thì H hướng dẫn Q đến bụi cây ven đường lấy ma túy và để tiền mua ma túy lại bụi cây này. Sau khi mua được ma túy, Q cất giấu ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 60C2-686.55 lưu thông trên đường ĐT762 đến ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an tuần tra kiểm tra phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 616/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,2135 gam, loại Methamphetamine".

Ngày 01/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” để điều tra. Quá trình điều tra bị can Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 215/CT-VKS-TB ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Mai Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Mai Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Mai Văn Q với mức án từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16, gắn sim: 0975711810 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định ký hiệu số: 616/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
    • + Đối với số tiền 550.000 đồng, quá trình điều tra xác định tài sản là tài sản hợp pháp của Mai Văn Q, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho Q.
    • + Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria biển số 60C2-686.55, kết quả tra cứu là xe mô tô do ông Châu Minh L, trú tại ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên giấy xác nhận đăng ký xe. Tháng 01/2024, ông L đã bán xe trên nhưng đã lâu nên không nhớ bán cho ai, với giá bao nhiêu. Ngày 22/3/2024, Mai Văn Q mượn xe mô tô biển số 60C2-0686.55 của bà Nguyễn Hồng V (mẹ ruột của Mai Văn Q) để đi công việc, sau đó sử dụng vào việc phạm tội thì bà V không biết. Qua làm việc, bà Nguyễn Hồng V xác định mua xe mô tô biển số 60C2-686.55 của ông L và có làm hợp đồng mua bán hợp pháp nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà V theo đúng quy định.
  • - Về án phí: Buộc bị cáo Mai Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn Q không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/3/2024, tại đường Đ thuộc ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Mai Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,2135 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Mai Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống và gây mất trật tự trị an cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

[6.1] Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong số: 616/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

[6.2] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16, gắn sim có số seri: 8984 04800 03818 98194.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

[6.3] Đối với số tiền 550.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Mai Văn Q, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho Q theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.4] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria biển số 60C2-686.55, kết quả tra cứu là xe mô tô do ông Châu Minh L, trú tại ấp H, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên giấy xác nhận đăng ký xe. Tháng 01/2024, ông L đã bán xe trên nhưng đã lâu nên không nhớ bán cho ai, với giá bao nhiêu. Ngày 22/3/2024, Mai Văn Q mượn xe mô tô biển số 60C2-0686.55 của bà Nguyễn Hồng V (mẹ ruột của Mai Văn Q) để đi công việc, sau đó sử dụng vào việc phạm tội thì bà V không biết. Qua làm việc, bà Nguyễn Hồng V xác định mua xe mô tô biển số 60C2-686.55 của ông L và có làm hợp đồng mua bán hợp pháp nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà V theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với đối tượng tên H bán ma túy cho bị cáo Q. Trong quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Mai Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Mai Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn Q 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong số: 616/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16, gắn sim có số seri: 8984 04800 03818 98194.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mai Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Mai Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 212/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoản 1 Điều 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger