Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:212/2025/HS-ST

Ngày: 28/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hóa

Bà Bùi Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ – Thư ký viên, Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 202/2025/TLST- HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN TÀI T, sinh năm 2001, tại: Bắc Ninh; CCCD: [...]; Nơi thường trú: Khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tài Đ, con bà: Nguyễn Thị P; Tiền án: Bản án số 189/2024/HSST ngày 27/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử 02 năm tù tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tiền sự: không; Đầu thú ngày 11/07/2025; Bị bắt, tạm giữ ngày 12/07/2025; tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H; Có mặt.

* Người bị hại:

  • Chị Lê Thị Thu L, sinh năm 1999; Cư trú: E M, phường V, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • Chị Trương Lê Thu H, sinh năm 2001; Cư trú: Phòng I, Tòa G S, phường V, thành phố Hà Nội. Có mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Nông Thị Q, sinh năm 2003; Cư trú: Xóm B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Quang Đ1, sinh năm 1999; Cư trú: Khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Anh V, sinh năm 2002; Cư trú: Xóm B, phường P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Tháng 5/2025, Nguyễn Tài T vừa chấp hành xong hình phạt tù ra trại, do không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách giả danh nhân viên ứng dụng tài chính MOMO, lợi dụng lòng tin của người khác nhằm chiếm đoạt tiền. Để thực hiện hành vi, T đăng nhập vào một hội nhóm "hỗ trợ lừa đảo" trên ứng dụng Telegram nhờ làm hộ một tài khoản ngân hàng để nhận tiền, sau đó T được cung cấp 01 tài khoản số 43283837 mở tại ngân hàng A. T và người dùng tài khoản này thỏa thuận sau mỗi lần giao dịch chuyển tiền thành công sẽ tự cắt phí từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng/1 lượt chuyển khoản, số tiền còn lại trong lần giao dịch đó, sẽ chuyển vào tài khoản của T mở tại ngân hàng V1 số [...]. T sử dụng nhiều tài khoản mạng xã hội, trong đó có tài khoản Telegram đăng ký số điện thoại "0867.928.xxx và 0396904625" để liên hệ với các bị hại. T hướng dẫn các bị hại mở các khoản vay trên ví điện tử liên kết với ngân hàng, khi mở khoản vay, sẽ có số tiền vay cụ thể, sau đó chuyển số tiền đã vay vào chính tài khoản ngân hàng của họ, mục đích để không bị ngân hàng trừ phí giao dịch, và tiếp tục chuyển số tiền đã vay vào tài khoản số 43283837 mở tại ngân hàng A do T cung cấp (T đưa ra thông tin gian dối nói là tài khoản của công ty dùng để nhận tất toán đối với khoản vay trên). Sau khi cắt phí như thỏa thuận sẽ chuyển số tiền còn lại vào tài khoản của T mở tại ngân hàng V1 số [...]. Thái sẽ đến các cửa hàng vàng hoặc cửa hàng điện thoại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hoặc thành phố Hà Nội để rút tiền mặt ra chi tiêu.

Bằng thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ 17/6/2025 đến ngày 11/7/2025, T đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Trương Lê Thu H (Sinh năm 2001, Nơi thường trú: Tổ F K Đ, tỉnh Quảng Ngãi) và chị Lê Thị Thu L (Sinh năm 1999, Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Hưng Yên) cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Đầu tháng 6/2025, thông qua mạng xã hội I, T quen biết chị Trương Lê Thu H. T nói với chị H, T là nhân viên ứng dụng tài chính MOMO chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh đang chạy cho đủ chỉ tiêu KPI (chỉ tiêu cho khách vay tín dụng qua app do công ty giao) để được chuyển công tác ra Hà Nội. T đã nhờ chị H mở khoản vay trên ứng dụng MOMO và giới thiệu thêm bạn bè mở khoản vay để tăng lượt chỉ tiêu cho T. Thời gian quen nhau, chị H nảy sinh tình cảm với T và muốn T được chuyển công tác ra Hà Nội nên đã đồng ý mở khoản vay, T đã hướng dẫn H mở được 3 khoản vay rồi chiếm đoạt gồm:

  • + Ngày 25/6/2025: H mở khoản vay 25.000.000 đồng.
  • + Ngày 06/7/2025: H mở khoản vay 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 07/7/2025: H mở khoản vay 15.000.000 đồng.

Sau khi mở được khoản vay, tất cả số tiền trên, T đều hướng dẫn H chuyển vào tài khoản cá nhân của H rồi sau đó chuyển tiếp vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THI QUY do T cung cấp, sau khi cắt phí như thỏa thuận, tài khoản trên sẽ chuyển đến tài khoản của T mở tại ngân hàng V1 số [...] và chiếm đoạt.

Chị H khai không biết Nông Thị Q, Nguyễn Anh V là ai. Chị H chuyển tiền theo các số tài khoản trên là do T cung cấp và chỉ dẫn chị. Ngày 06/7/2025, từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của H số tiền 1.840.000 đồng là tiền T trả cho chị vì T có nhờ chị H mua một số đồ dùng riêng, không liên quan đến việc T lừa đảo chị.

Tổng số tiền T lừa đảo chiếm đoạt của chị H là 42.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Thông qua sự giới thiệu của chị H, T kết bạn và nhắn tin với chị Lê Thị Thu L qua ứng dụng Z (T có zalo của L là do H gửi mã QR). Đầu tiên, T sử dụng tài khoản zalo "Ntt" đăng ký bằng số điện thoại 0867.928.xxx để nhắn tin nhờ chị L mở khoản vay nhằm tăng lượng chỉ tiêu KPI.

Sau đó, T hướng dẫn mở các khoản vay qua ứng dụng MOMO. Do chị L tin tưởng T là bạn của chị H nên chị L đồng ý giúp.

  • +Ngày 17/6/2025, chị L mở khoản vay với số tiền là 40.000.000 đồng. Thái hướng dẫn và gửi qua tin nhắn zalo để chị L quét mã QR của tài khoản ngân hàng A số 43283837 chuyển số tiền 39.7000.000 đồng vào tài khoản trên, T nói để thanh toán khoản vay. Sau đó, T đưa thông tin gian dối về việc khoản thanh toán trên của chị L đang bị treo, chưa được hệ thông xác nhận nên ngày 08/7/2025, T sử dụng tài khoản zalo thứ hai là "Mmtc" đăng ký bằng số điện thoại 0369.690.xxx nhắn tin cho chi L. T tự giới thiệu là nhân viên công ty M1 muốn xác nhận thanh toán khoản vay trên. Lúc đầu, chị L có nghi ngờ, nhắn tin cho T qua tài khoản "Ntt", T nói chị L cứ làm theo sự hướng dẫn của người có tài khoản "Mmtc". T sử dụng tài khoản "Mmtc" thông báo cho chị L biết khoản thanh toán của chị L đang bị treo do ghi sai nội dung, muốn giải ngân phải thao tác thanh toán lại thì số tiền đã thanh toán trước đó sẽ tự động được hoàn trả vào tài khoản của chị L. Bằng thủ đoạn này, T đã hướng dẫn chị L mở tiếp 03 khoản vay trên các ví điện tử khác nhau như sau:
  • + Ngày 09/7/2025, chị L mở khoản vay trên ứng dụng CAKE với số tiền là 30.000.000 đồng. L chuyển vào tài khoản cá nhân của L rồi sau đó chuyển tiếp vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THI QUY do T cung cấp với số tiền 30.000.000 đồng.
  • + Ngày 09/7/2025, chị L mở khoản vay trên ứng dụng TNEX với số tiền là 20.000.000 đồng. Từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 9.500.000 đồng. L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THI QUY do T cung cấp với số tiền 29.500.000 đồng.
  • + Ngày 09/6/2025, từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 2.744.000 đồng. L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THI QUY do T cung cấp với số tiền 2.664.000 đồng( T nói L giữ lại 80.000 đồng).

Ngoài ra trong ngày 10/7/2025 từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 1.880.000 đồng và 17.657.000 đồng, tổng số tiền là 19.537.000 đồng. L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 19.537.000 đồng.

Chị L khai không biết Nông Thị Q, Nguyễn Anh V là ai. Chị L chuyển tiền theo các số tài khoản trên là do T cung cấp và chỉ dẫn chị.

Tổng số tiền T lừa đảo chiếm đoạt của L là 89.620.000 đồng.

Do hệ thống vẫn thông báo số tiền mà chị H và chị L vay chưa được thanh toán, do nghĩ đã bị Thái L1 nên hai chị đã đến Công an phường V trình báo sự việc.

Ngày 11/7/2025, T đến Công an phường V đầu thú. Cơ quan Công an thu giữ của T: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu đen, số IMEI 1: 358281868084686; số IMEI 2: 358281868398995.

Tại Cơ quan Công an T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai: sau mỗi lần H và L chuyên khoản thành công vào tài khoản số 43283837 mở tại ngân hàng A, T đều gửi ảnh giao dịch chuyển khoản vào tài khoản người dùng Telegram như trên để xác nhận giao dịch và trừ phí, số tiền còn lại sẽ chuyển vào tài khoản ngân hàng V1 của T. Khi có tiền trong tài khoản, T đến cửa hàng Đ2 tại địa chỉ khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Quang Đ1 (SN: 1999, Nơi thường trú: Khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh) làm chủ để đổi tiền mặt lần lượt vào các ngày 25/6/2025 được 25.000.000 đồng, ngày 30/6/2025 được 4.000.000 đồng, ngày 04/7/2025 được 20.000.000 đồng, ngày 06/7/2025 được 20.000.000 đồng. Còn lại các lần đổi tiền khác, T không nhớ địa chỉ và số tiền đổi. Tất cả số tiền trên, T đều ăn tiêu cá nhân hết.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu đen, T sử dụng 02 số điện thoại "0867.928.xxx và 0396904665" để nhắn tin lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Công ty Cổ phần V3 cung cấp số thuê bao 0867928595 dùng để đăng ký tài khoản zalo "Ntt" và số thuê bao 0369690465 dùng để đăng ký tài khoản zalo"Mmtc" là của Nguyễn Tài T.

Đối với tài khoản số [...] mang tên NGUYEN TAI THAI mở tại ngân hàng V1 được Nguyễn Tài T mở đăng ký bằng số điện thoại 0867.928.xxx.

Đối với tài khoản 43283837 mở tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Á(A), qua xác minh chủ tài khoản là đứng tên chị Nông Thị Q (SN: 2003, Nơi thường trú: Xóm B, Y, tỉnh Thái Nguyên). Tại cơ quan điều tra, Nông Thị Q khai: khoảng cuối tháng 11/2024, thông qua mạng xã hội, Q được một nam thanh niên (hiện không xác định được nhân thân, địa chỉ) nhờ mở tài khoản ngân hàng và trả công 500.000 đồng. Q đồng ý và đến Ngân hàng A dùng thông tin cá nhân mở tài khoản số 43283837 như trên. Sau đó, Q cung cấp toàn bộ thông tin số tài khoản, mật khẩu đăng nhập cho nam thanh niên. Từ đó đến nay, Q không quản lý, không sử dụng tài khoản ngân hàng trên. Q không biết, không tham gia vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Q trong vụ án này.

Đối với tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 là của anh Nguyễn Anh V, V khai: tháng 11 năm 2020, thông qua mạng xã hội, V được một nam thanh niên( hiện không xác định được nhân thân, địa chỉ nhờ mở tài khoản ngân hàng và trả công 300.000 đồng. Sau đó, V cung cấp toàn bộ thông tin số tài khoản, mật khẩu đăng nhập cho nam thanh niên. Từ đó đến nay, V không quản lý, không sử dụng tài khoản ngân hàng trên. Q không biết, không tham gia vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với V trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Quang Đ1 là người được T chuyển khoản nhờ rút tiền mặt, Đ1 không biết nguồn gốc số tiền T nhờ rút do T phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Đ1 trong vụ án này.

Đối với người dùng tài khoản Telegram cung cấp số tài khoản Ngân hàng A, T dùng để nhận tiền lừa đảo của bị hại, do T liên hệ trên mạng Telegram, không biết nhân thân địa chỉ, hiện không nhớ tên tài khoản và đã xóa hết tin nhắn với người này. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.

Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao- C cho biết các tài khoản trên ứng dụng Telegram, I có máy chủ đặt ở nước ngoài, chưa có văn phòng đại diện pháp luật tại Việt Nam nên không xác minh được chủ tài khoản.

Tất cả các lần mở khoản vay trên đều được chị H thực hiện tại nơi ở, tòa G S, phường V. Chị L thực hiện tại E M, phường V. Chị H và chị L đều đã thanh toán xong với Ngân hàng với số tiền của các khoản vay trên, đến nay không còn nợ Ngân hàng.

Về bồi thường dân sự: Chị Trương Lê Thu H và chị Lê Thị Thu L yêu cầu T bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.

Cáo trạng số 05/CT-VKSKV3 ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội đã truy tố Nguyễn Tài T tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[2] Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Tài T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 05/CT-VKSKV3 ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị truy tố là đúng tội, quá trình điều tra không bị ai đánh đập, đe dọa, ép cung.

Người bị hại chị Trương Lê Thu H yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị H số tiền: 42.000.000 đồng.

Người bị hại chị Lê Thị Thu L yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị L số tiền 89.620.000 đồng.

[3]. Phần tranh luận tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Tài T từ 05 năm tù cho đến 05 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo;

- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Tài T phải bồi thường cho chị Trương Lê Thu H số tiền: 42.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lê Thị Thu L số tiền 89.620.000 đồng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu đen thu giữ của T.

Bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan sai nên không có tranh luận gì.

[4]. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Xét hành phạm tội của bị cáo: Tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận định giá tài sản. Đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2025 đến tháng 7 năm 2025, Nguyễn Tài T đã sử dụng mạng xã hội (I, Z) để làm quen với chị Trương Lê Thu H và chị Lê Thị Thu L, T đưa ra thông tin gian dối mình là nhân viên tài chính của M đang cần hoàn thành chỉ tiêu cho vay tiêu dùng, từ đó lừa dối để chiếm đoạt tài sản thông qua việc hướng dẫn các bị hại mở khoản vay, và chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng A mang tên NONG THI QUY SỐ 43283837, do T cung cấp và nói là tài khoản của công ty nhằm để tất toán khoản vay, từ tài khoản này số tiền sẽ được chuyển đến tài khoản cá nhân của T mở tại ngân hàng V1 số [...], sau khi nhận được tiền, T chiếm đoạt toàn bộ.

Bằng thủ đoạn như trên, T đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị H và chị L cụ thể :

  • + Ngày 25/6/2025, T hướng dẫn chị H mở khoản vay trên ứng dụng Momo với số tiền 25.000.000 đồng.
  • + Ngày 06/7/2025: Thái hướng dẫn chị H mở khoản vay trên ứng dụng số tiền 2.000.000 đồng.
  • + Ngày 07/7/2025: Thái hướng dẫn chị H mở khoản vay trên ứng dụng Tnex với số tiền 15.000.000 đồng.

Toàn bộ số tiền trên, theo hướng dẫn của T đã được chuyến vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp và chiếm đoạt.

Tất cả các lần mở khoản vay đều được chị H thực hiện tại tòa G3 S, phường V, Hà Nội.

Tổng số tiền T lừa đảo chiếm đoạt của chị H là 42.000.000 đồng.

  • +Ngày 17/6/2025, T hướng dẫn chị L mở khoản vay trên ứng dụng Momo với số tiền 40.000.000 đồng. Theo hướng dẫn của T đã được chuyến vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 39.700.000 đồng( T bảo chị L giữ lại 300.000 đồng).
  • + Ngày 09/7/2025, T hướng dẫn chị L mở khoản vay trên ứng dụng CAKE với số tiền là 30.000.000 đồng. Theo hướng dẫn của T đã được chuyến vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 30.000.000 đồng
  • + Ngày 09/7/2025, T hướng dẫn chị L mở khoản vay trên ứng dụng TNEX với số tiền là 20.000.000 đồng. Cùng ngày, từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 9.500.000 đồng nên chị L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 29.500.000 đồng.
  • + Ngày 09/6/2025, từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 2.744.000 đồng. L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 2.664.000 đồng( T nói L giữ lại 80.000 đồng).
  • +Ngoài ra trong ngày 10/7/2025 từ tài khoản 105872417422 mở tại Ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Anh V chuyển vào tài khoản của L số tiền 1.880.000 đồng và 17.657.000 đồng, tổng số tiền là 19.537.000 đồng. L chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 43283837 mang tên NONG THỊ QUY do T cung cấp với số tiền 19.537.000 đồng.

Tất cả các lần mở khoản vay đều được chị L thực hiện tại địa chỉ E M, phường V, Hà Nội.

Tổng số tiền T lừa đảo chiếm đoạt của chị L là 89.620.000 đồng.

Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 131.620.000 đồng của người khác khi bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đã đủ yếu tố cấu thành phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hà Nội truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự ổn định xã hội; Bị cáo lợi dụng lòng tin của người bị hại, mặc dù không là nhân viên, cộng tác viên, không làm việc tại Công ty M1 nhưng bị cáo vẫn nói dối mình là nhân viên ứng dụng tài chính MOMO, đang cần tăng chỉ tiêu KPI để nhờ chị H, chị L mở tài khoản vay trên các ứng dụng vay tiền online. Sau khi hoàn tất thủ tục vay, chị H, chị L đã tin tưởng mà chuyển số tiền vay cho bị cáo thông qua các tài khoản của những đối tượng khác. Mục đích của bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản của chị H, chị L. Bị cáo biết rõ hậu quả nguy hiểm xảy ra nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân thể hiện ý thức của bị cáo là xem nhẹ pháp luật, coi thường tài sản của người khác.

Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Tài T xấu: Năm 2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù của Bản án này vào tháng 5/2025, thì tháng 6/2025 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cùng loại. Bản án này tính đến nay chưa được xóa. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo T thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều này chứng tỏ bị cáo T có thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để bị cáo phải cải tạo tại trại giam và tuân thủ các quy định nghiêm khắc của trại về học tập, lao động, sinh hoạt mới đảm bảo hiệu quả của tính răn đe phòng ngừa tội phạm chung và mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải; nên áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5]. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6]. Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là Trương Lê Thu H và chị Lê Thị Thu L yêu cầu bị cáo Nguyễn Tài T phải bồi thường tổng số tiền mà bị cáo T chiếm đoạt của chị H là 42.000.000 đồng, chị L là 89.620.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo nhận thức được trách nhiệm bồi thường cho chị L, chị H số tiền trên tuy nhiên hiện tại bị cáo không có khả năng để bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Tài T phải bồi thường cho chị Trương Lê Thu H số tiền: 42.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lê Thị Thu L số tiền 89.620.000 đồng.

[7]. Những vấn đề khác:

Đối với chị Nông Thị Q được 1 thanh niên nhờ mở tài khoản số 43283837 tại Ngân hàng A và được trả công 500.000 đồng. Chị Q không quản lý, không sử dụng tài khoản trên. Chị Q không biết, không tham gia vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị Q trong vụ án này. Chị Q cũng không có yêu cầu dân sự gì liên quan đến số tài khoản 43283837 tại Ngân hàng A nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với anh Nguyễn Anh V được 1 thanh niên nhờ mở tài khoản số [...] tại Ngân hàng V2 và được trả công 300.000 đồng. Anh V không quản lý, không sử dụng tài khoản trên. Anh V không biết, không tham gia vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh V trong vụ án này. Anh V cũng không có yêu cầu dân sự gì liên quan đến số tài khoản 105872417422 tại Ngân hàng V2 nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Nguyễn Quang Đ1 là người được T chuyển khoản nhờ rút tiền mặt, Đ1 không biết nguồn gốc số tiền T nhờ rút do T phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Đ1 trong vụ án này. Anh Đ1 không có yêu cầu dân sự gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người dùng tài khoản Telegram cung cấp số tài khoản Ngân hàng A, tài khoản số [...] tại Ngân hàng V2, T dùng để nhận tiền lừa đảo của bị hại, do T liên hệ trên mạng Telegram, không biết nhân thân địa chỉ, hiện không nhớ tên tài khoản và đã xóa hết tin nhắn với người này. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.

[8]. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đối với 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, Imei: 358281868084686, Imei 2: 358281868398995 là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Tài T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

[10]. Quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g, h khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Nguyễn Tài T 05 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/07/2025.

[2]. Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[3].Trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Tài T phải bồi thường cho chị Trương Lê Thu H số tiền: 42.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lê Thị Thu L số tiền 89.620.000 đồng.

[4]. Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 14 Promax màu đen, Imei: 358281868084686, Imei 2: 358281868398995 (Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 2026/KV3-053 GN/THA-CA ngày 24/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, thành phố Hà Nội).

[5].Án phí: Bị cáo Nguyễn Tài T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.581.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6].Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành được khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 3- HN;
  • - Phòng Thi hành án Khu vực 3- HN;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Vũ Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 212/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XÉT XỬ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger