|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 212/2025/HS-ST Ngày 02/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Ngọc Phương;
- Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh (trụ sở chính) xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Văn T1, sinh năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn B, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Nhân viên kho; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hà Văn H, sinh năm 1965 và bà Thiều Thị G, sinh năm: 1964; có 01 anh trai, sinh năm 1989; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: Số A C, phường A, quận T, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Thái H1; thường trú: Tổ A, ấp L, xã C, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền. (Giấy ủy quyền ngày 14/7/2025), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Đỗ Quang Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Số F đường D, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Ông Trần Đức H2 – Chủ hộ kinh doanh Trường T2; địa chỉ: Số A đường K, khu phố D, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Lê Hải D – Chủ hộ kinh doanh Điện thoại di dộng – Cầm đồ Quang Biên; địa chỉ: Số E đường Đ, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị P – Chủ hộ kinh doanh T3; địa chỉ: Số C khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hồng G1, sinh năm 1992; địa chỉ: Số E đường Đ, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền, vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Phan Văn Q1, sinh năm 2005, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn T1 là nhân viên Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ: số A, đường C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Công ty Đ). Từ tháng 9/2024, T1 được phân công việc xếp dỡ hàng hóa tại Kho hàng của Công ty Đ trên đường số A, khu công nghiệp S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc tại Công ty Đ, T1 thường xuyên thua tiền chơi game đánh bạc trên mạng nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản tại kho hàng bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Trong quá trình xếp dỡ hàng hóa vào ban đêm, T1 nhặt đinh vít trong kho hàng bỏ vào trong túi quần, khi xếp các hộp giấy có ghi số lượng từ 5 – 10 cái điện thoại lên thùng xe ô tô tải ở vị trí khuất camera thì T1 dùng đinh vít rạch băng keo dán mở hộp giấy lấy trộm từ 01 đến 02 cái điện thoại bên trong. Lấy trộm xong, T1 dùng băng keo dán hộp giấy lại, riêng điện thoại lấy trộm được T1 giấu vào lưng quần rồi mang ra ngoài đi bán lấy tiền.
Với phương thức, thủ đoạn trên, trong thời gian từ tháng 04/2025 đến tháng 7/2025, T1 đã có 06 lần lấy trộm được 08 cái điện thoại, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào khoảng 02 giờ ngày 20/04/2025, T1 lấy trộm được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16, màu đen mang về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng cuối tháng 04/2025, T1 nhờ ông Phan Văn Q1, sinh năm 2005 điều khiển xe mô tô biển số 95B1-343.12 chở T1 đến cửa hàng điện thoại “Q”, tại địa chỉ số E khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. T1 đi vào gặp chủ tiệm là bà Nguyễn Thị Hồng G1, sinh năm 1992, T1 nói với bà G1 là mua máy mới, kẹt tiền nên bán, nghe vậy bà G1 đồng ý mua điện thoại với giá 2.000.000 đồng. T1 lấy tiền sử dụng cá nhân hết. Sau khi mua điện thoại của T1, bà G1 bán điện thoại trên cho khách đi đường (không rõ lai lịch) với giá 2.500.000 đồng nên không thu hồi được.
Lần thứ 2: Khoảng 02 giờ ngày 26/04/2025, T1 lấy trộm được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A06 (màu đen) mang về phòng trọ cất giấu.
Lần thứ 3: Khoảng 02 giờ ngày 09/05/2025, T1 lấy trộm được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16 – 128Gb, màu xanh. T1 lấy về sử dụng đến cuối tháng 5/2025 thì cho ông Q1 mượn sử dụng do điện thoại của Q1 bị hư. Q1 sử dụng đến đầu tháng 06/2025 thì T1 không có tiền tiêu xài nên kêu Q1 mang điện thoại đi bán dùm cho T1. Q1 mang điện thoại đến cửa hàng điện thoại “Trường T2”, tại địa chỉ số A phường L, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho chủ tiệm là ông Trần Đức H2, sinh năm 1990, Q1 nói điện thoại của Q1 sử dụng được thời gian kẹt tiền nên mang bán, ông H2 đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, Q1 mượn T1 số tiền 1.800.000 đồng để mua 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78 tại tiệm của ông H2 để sử dụng, số tiền 1.200.000 đồng còn lại Q1 mang về đưa cho T1. Ngày 15/07/2025, khi Cơ quan Công an đến làm việc, ông H2 biết điện thoại là do T1 phạm tội mà có nên tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an để phục vụ điều tra.
Lần thứ 4: Vào khoảng 02 giờ ngày 30/05/2025, T1 lấy trộm được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A36 – 256GB, màu đen mang về phòng trọ cất giấu. Đến giữa tháng 06/2025, T1 nhờ Q1 chở đến tiệm điện thoại “Tuấn Mobile”, tại địa chỉ số A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nơi Q1 đứng ngoài, T1 đi vào tiệm gặp bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1992, T1 lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A36 - 256GB và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A06 – 128GB (lấy trộm ngày 26/04/2025) bán cho bà P, T1 nói hàng trong công ty bị cấn móp nên công ty T4 cho công nhân, T1 mua lại nhưng kẹt tiền nên mang bán 02 điện thoại di động trên, nghe vậy bà P đồng ý mua với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, T1 dùng số tiền bán điện thoại có được mua lại của bà P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 – 512Gb với giá 19.000.000 đồng, T1 trả trước 8.000.000 đồng, số tiền còn lại T1 trả góp. Đối với 02 điện thoại di động này, bà P đã bán lại cho khách đi đường (không rõ lai lịch), nên không thu hồi được.
Lần thứ 5: Vào khoảng 01 giờ ngày 23/06/2025, T1 lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16 – 128Gb, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16 – 128GB, màu xanh mang về phòng trọ cất giấu. Ngày 23/06/2025, T1 điều khiển xe mô tô biển số 95B1-343.12 đến tiệm điện thoại “Tuấn Mobile” gặp bà Nguyễn Thị P bán 02 điện thoại di động trên với giá 7.200.000 đồng. Đối với 02 điện thoại di động này, bà P đã bán lại cho khách đi đường (không rõ lai lịch) nên không thu hồi được.
Lần thứ 6: Vào khoảng 02 giờ ngày 13/07/2025, T1 lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S25 Ultra – 256GB, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu HONOR X7c - 256GB mang về phòng trọ cất giấu trên gác phòng trọ.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 01/BB-HĐĐGTS ngày 13/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự phường D như sau:
- + 02 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16 (màu đen), dung lượng 128GB, trị giá 10.131.000 đồng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A06 (màu đen), dung lượng 128GB, trị giá 3.862.100 đồng.
- + 02 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A16 (màu xanh), dung lượng 128GB, trị giá 10.131.000 đồng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A36 (màu đen), dung lượng 256GB, trị giá 7.989.300 đồng.
- + 01 điện thoại di động hiệu S S25 Ultra (màu đen), dung lượng 256GB, trị giá 28.699.920 đồng.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Honor X7c (màu xanh), dung lượng 256GB, trị giá 4.419.949 đồng.
Tổng tài sản Hà Văn T1 trộm cắp có giá trị số tiền 65.233.269 đồng (Sáu mươi lăm triệu hai trăm ba mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi chín đồng).
Ngày 25/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố vụ án Cướp giật tài sản quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Ngày 25/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H khởi tố bị can Hà Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 16/CT-VKS-KV16 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hà Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.
* Xử lý vật chứng:
- + Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 95B1-343.12 do Hà Văn T1 mượn của ông Đỗ Văn C. Ngày 13/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả lại xe trên cho ông Đỗ Văn C theo quy định.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu HONOR X7c màu xanh, dung lượng 256GB; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S25 Ultra, màu đen, dung lượng 256GB; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A16 màu xanh, dung lượng 128GB là tài sản của Công ty Đ. Ngày 13/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả lại 03 điện thoại trên cho Công ty Đ theo quy định.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, màu đen xám, dung lượng 512GB là của T1 mua trả góp tại Cửa hàng điện thoại “Tuấn Mobile 1” của bà Nguyễn Thị P bằng tiền do phạm tội mà có. Đề nghị giải quyết theo quy định
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho các bị hại xong, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Từ khoảng tháng 4/2025 đến tháng 07/2025, tại Kho hàng của Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ: đường số A, khu công nghiệp S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Văn T1 nhiều lần (06 lần) thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 08 điện thoại di động các loại, tổng trị giá 65.233.269 đồng của Công ty Cổ phần Đ. Hành vi của Hà Văn T1 xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại về tài sản, được pháp luật bảo vệ, Hà Văn T1 phạm tội với lỗi cố ý, đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Cáo trạng số 16/CT-VKS-KV16 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của Hà Văn T1 xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại về tài sản, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi, lười lao động bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Bị cáo thực hiện 06 lần về hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) bởi lẽ bị cáo có nghề nghiệp ổn định, không lấy kết quả của việc trộm cắp để nuôi sống gia đình và bản thân bị cáo.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị can tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đầu thú, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nghề nghiệp không có tiền án tiền sự.
[7] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, do đó đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không phạt bổ sung.
[8] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và ông Đỗ Quang Q đã bồi thường cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thường gì khác, ông Q không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền nên trách nhiệm dân sự không xem xét.
[9] Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 95B1-343.12 do Hà Văn T1 mượn của ông Đỗ Văn C, ông C cho bị cáo mượn xe đi làm không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả lại xe trên cho ông Đỗ Văn C là đúng theo quy định.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu HONOR X7c màu xanh, dung lượng 256GB; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S25 Ultra, màu đen, dung lượng 256GB; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A16 màu xanh, dung lượng 128GB là tài sản của Công ty Đ. Ngày 13/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả lại 03 điện thoại trên cho Công ty Đ là đúng quy định.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, màu đen xám, dung lượng 512GB là của T1 mua trả góp tại Cửa hàng điện thoại “Tuấn Mobile 1” của bà Nguyễn Thị P bằng tiền do phạm tội mà có. Xét bị cáo đã bồi thường giá trị tài sản cho bị hại và bà Nguyễn Thị P nên tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên cần trả lại điện thoại cho bị cáo.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T1 phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2025.
Trả lại cho Hà Văn T1 01 điện thoại di động Iphone 14 promax, màu đen xám, 512 GB.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo Hà Văn T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Trung Hiếu |
7
8
Bản án số 212/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 212/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
