Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2025/HS - PT

Ngày: 03 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu

Các Thẩm phán:

  1. Ông Đặng Hồng Sơn
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 147/2025/TLPT-HS ngày 26/4/2025 đối với các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ chí Minh (131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Chí Hòa (T30) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Vũ Hoàng N; giới tính: Nam; sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: G65/8 Tổ A, khu phố B, phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: P6B – 30.01, VH, số 720A ĐBP, Phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Tất T và bà Vũ Thị Hồng P; có vợ và 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2023; có mặt tại điểm cầu thành phần.

  2. Đặng Gia L; giới tính: Nam; sinh năm 1994, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: 79/Q1, khu phố 1, phường A, BT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Quốc B và bà Hoàng Thị H; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2023; có mặt tại điểm cầu thành phần.

  3. Nguyễn Phùng T; giới tính: Nam; sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khu B, ấp Z, AP, Huyện LT, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: 47 LL, thị trấn ĐM, Huyện ĐH, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nhân viên Trung tâm Tài nguyên Môi trường & Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Lâm Đồng (đã nghỉ việc); trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Phùng H và bà Nguyễn Thị C; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2023; có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Đặng Đình Tuyên, cán bộ Trại tạm giam Chí Hòa (T30) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T: Luật sư Trần Thị Trâm, Công ty Luật TNHH Levina, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội, có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Trọng H không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Hoàng N, Đặng Gia L và Nguyễn Phùng T là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, N rủ L và T về nhà của N thuê tại căn hộ P6B30.01 VH, địa chỉ số 720A đường ĐBP, Phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh để nghỉ ngơi. N đề nghị thuê phòng và thuê gái bán dâm cùng sử dụng ma túy, L và T đồng ý, cả ba thống nhất N bỏ tiền trả trước rồi chia đều tiền sau. Sau đó, N điện thoại thuê căn hộ mã L4.4912B VH, giá 1.500.000 đồng/đêm. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 14/10/2023, khi đi từ căn hộ P6B30.01 VH để qua căn hộ L4.4912B VH thì N nói L và T xếp 01 loa, 02 đèn của N có sẵn vào 01 túi xách vải màu đen để đem đi sử dụng ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, N liên lạc qua zalo với “Quỳnh Ly”, N biết qua mạng xã hội để thuê gái với giá 8.000.000 đồng/01 người để “bay bùm” (là cùng sử dụng ma túy và mua bán dâm), tiền thuê gái bán dâm thì người nào có nhu cầu thì người đó tự trả tiền. Sau đó, “Quỳnh Ly” gửi ảnh các cô gái cho nhóm của N lựa chọn, nhóm của N lựa được 02 người là Nguyễn Trọng H (đã phẫu thuật chuyển giới) và Nguyễn Thị L. “Quỳnh Ly” gửi số điện thoại của H và L cho N và gửi địa chỉ để H và L đến căn hộ để bay bùm với nhóm của N. Trong lúc chờ H và L đến thì N điện thoại liên hệ với một người không rõ lai lịch có nickname “Trung lung tung” đặt mua 04 viên ma túy dạng thuốc lắc và nửa hộp 5 ma túy dạng Ketamine với giá 3.700.000 đồng nhưng N mới chuyển khoản trước 1.750.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng thanh toán sau.

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/10/2023, H đến căn hộ L4.4912B VH thì N nhắn tin qua zalo cho một người không rõ lai lịch có nickname “Bảo Ngọc pod và đồ ngủ” đặt mua 01 bịch ma túy “nước vui” với giá 2.400.000 đồng. Đến 21 giờ 15 phút cùng ngày, T giao ma túy đến cho N, N đem gói ma túy gồm 04 viên “kẹo” và nửa hộp 5 “ke” lên căn hộ thì nghiền nát ½ viên pha với nước uống rồi mời H uống, tại đây N và H sử dụng ½ viên thuốc lắc. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, L đến VH thì được N đón lên, khi L đến thì căn hộ L4.4912B VH bị hư máy lạnh nên cả nhóm đổi qua căn hộ L4.4901 VH, N cầm ma túy cùng túi loa đèn qua căn hộ mới. Sau khi N, L và H qua căn hộ L4.4901 VH thì N bỏ gói ma túy “ke” và “thuốc lắc” để ra bàn phòng khách và bật lò vi sóng để làm nóng đĩa, H đem đĩa đã hơ nóng ra bàn ngoài phòng khách đổ “ke” ra đĩa xào ke bằng tờ tiền. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, L và T qua căn hộ L4.4901 VH, T mới nhờ L thuê thêm 01 cô gái nữa đến “bay bùm” với giá 8.000.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T nhận bịch ma túy “nước vui” đem lên căn hộ và vào phòng ngủ, còn lại cả nhóm cùng sử dụng ma túy “thuốc lắc” ở phòng khách trước. L lấy 01 viên “thuốc lắc” bẻ chia ¼ viên cho L để uống, L cũng uống ¼ viên “thuốc lắc” và đập dập ½ viên thuốc còn lại bỏ vào ly nước ngọt cùng uống với H. Sau khi sử dụng “thuốc lắc” xong thì L sử dụng tô có sẵn trong căn hộ pha nấu ma túy “nước vui”, L bưng tô “nước vui” vào phòng ngủ giữa, L câm đĩa đựng ma túy “ke” đi vào phòng ngủ giữa và đưa thẻ ngân hàng VP Bank của L cho L kẻ đường ma túy “ke”. L bỏ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đưa cho L cuốn thành ống hút để cả nhóm cùng sử dụng ma túy “ke”.

Lúc 01 giờ 04 phút ngày 15/10/2023, T đón T lên căn hộ, T nói T còn ½ viên ma túy “thuốc lắc” trên bàn, T tự lấy sử dụng. T và T ở phòng ngủ giữa thì L đưa tô “nước vui” và đĩa đựng “ke” cho T, T uống và hút. Sau khi sử dụng gần hết ma túy “ke” thì L hỏi L có muốn muốn mua thêm ma túy để tiếp tục sử dụng không, L đồng ý nên L điện thoại liên lạc với người tên “Linh” không rõ lai lịch qua Telegram đặt mua 01 hộp 5 ma túy “ke” với giá 4.400.000 đồng thanh toán sau, sau đó nhân viên giao ma túy tên “Trung VP” liên lạc với L để giao ma túy tại L4 VH. L nhờ L cùng đi xuống lấy ma túy rồi lên căn hộ L4.4901 Vinhomes để sử dụng. Khi chưa kịp sử dụng số ma túy “ke” mới do L mua và sử dụng chung, chưa đổ ra đĩa thì cả nhóm bị Công an kiểm tra, số ma túy trên đĩa còn lại là số ma túy “ke” cũ của N đã mua.

Công an phát hiện, thu giữ trên bàn phòng khách:

  • 01 ly thủy tinh chứa chất lỏng màu xanh, giám định chưa có kết quả;
  • 01 gói nylon chứa viên nén và mảnh vụn viên nén màu xanh (Qua giám định nhanh là ma túy có khối lượng 0,1635g loại MDMA).

Tại phòng ngủ phía trong:

  • Trên tủ để sát tường có 01 đĩa thủy tinh, trên đĩa có: 01 gói nylon bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu (Qua giám định nhanh là ma túy có khối lượng 3,9884g loại Ketamine); 01 thẻ ATM VPBank tên Đặng Gia L; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn thành ống hút; tinh thể không màu (khối lượng 0,3635g loại Ketamine); 01 loa nghe nhạc và 01 đèn chiếu;
  • Dưới sàn nhà cạnh tủ để sát tường có 01 tô sứ, bên trong có 01 muỗng kim loại, chất lỏng màu cam;
  • Tại góc tường có 01 đèn chiếu.

Theo kết luận giám định số 11503/KL-KTHS ngày 20/10/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1635g loại MDMA là ma túy “thuốc lắc” thu giữ của Vũ Hoàng N đặt mua từ trước. Sau giám định, mẫu vật còn lại là mảnh vụn viên nén màu xanh có khối lượng 0,0780g;

Theo kết luận giám định số 11503/KL-KTHS ngày 20/10/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,3635g, loại Ketamine là ma túy Vũ Hoàng N đặt mua từ trước cho cả nhóm sử dụng. Sau giám định, mẫu vật còn lại là tinh thể màu trắng có khối lượng 0,2537g;

Theo kết luận giám định số 11503/KL-KTHS ngày 20/10/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 3,9884g, loại Ketamine thu giữ của L đặt mua sau cho cả nhóm sử dụng. Sau giám định, mẫu vật còn lại là tinh thể màu trắng có khối lượng 2,7297g;

Cáo trạng số 140/CT-VKSBT ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm i, khoản 1, Điều 249 và điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Áp dụng điểm i, khoản 1, Điều 249 và điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T;
    1. Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

      Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023;

    2. Xử phạt bị cáo Đặng Gia L 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

      Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023;

    3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

      Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24/3/2025, các bị cáo Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

Ngày 25/3/2025, bị cáo Vũ Hoàng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án số 75/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo N 08 năm tù; bị cáo L 08 năm 06 tháng tù; bị cáo Thành 08 năm tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023 đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định. Xét, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, bị cáo N, L có con còn nhỏ, các bị cáo đều là lao động chính, là trụ cột gia đình. Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho các bị cáo cung cấp tình tiết mới là thành tích được tặng giấy khen của chính quyền địa phương đối với bị cáo L, các tình tiết trên đây là tình tiết cần xem xét tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho các bị cáo và tuyên mức hình phạt như Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh truy tố và xét xử sơ thẩm nên Luật sư tôn trọng quyết định của cơ quan tố tụng sơ thẩm. Tuy nhiên, mức án của bản án sơ thẩm và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu là quá nặng, chưa xem xét đến hoàn cảnh, bối cảnh và chính sách khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo đã ăn năn hối cải, ân hận sâu sắc về hành vi phạm tội. Các bị cáo thành khẩn nhận tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vì sự bồng bột và đều là bạn học với nhau, không hiểu hết sự tác hại của ma túy, hình phạt nghiêm khắc về tội phạm ma túy, bản thân các bị cáo không nghiện ngập chơi bời, con còn rất nhỏ mới sinh, là lao động chính, trụ cột trong gia đình, đã bị tạm giam gần 02 năm nên thấu hiểu giá trị của cuộc sống. Bị cáo N có thành tích xuất sắc nên được tặng nhiều giấy khen của các cơ quan tại địa phương. Thành tích xuất sắc của bị cáo được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận áp dụng. Do đó, đề nghị xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xét xử dưới khung hình phạt, mức án khoan hồng hơn mức án đề nghị của Viện kiểm sát để các bị cáo có cơ hội sửa sai làm lại cuộc đời khi còn đang rất trẻ.

Các bị cáo đồng ý lời bào chữa của Luật sư, không tham gia tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Các bị cáo biết rõ hành vi là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện như án sơ thẩm nêu. Cấp sơ thẩm căn cứ nhân thân, tính chất mức độ hành vi của các bị cáo đã xử phạt mức án đối với các bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cả hai tội danh, mức án nêu trên đã cân nhắc xem xét nên Viện kiểm sát cho rằng không nặng. Đối với bị cáo N là người chuẩn bị ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy lẽ ra phải xử mức án cao hơn các bị cáo khác. Do đó, Viện kiểm sát cho rằng mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Riêng Luật sư nêu các giấy khen là thành tích xuất sắc của bị cáo N để áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để đề nghị xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là không đúng nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trong phần luận tội nêu trên đối với các bị cáo.

Luật sư bảo lưu quan điểm và không tranh luận thêm.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  3. [3] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T cùng các tài kiệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Trọng H đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ L4.4901 VH, Phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo N là người chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy cùng các bị cáo khác sử dụng với nhau thì bị bắt quả tang, khối lượng ma túy còn lại chưa sử dụng 0,1635 gam, loại MDMA và 0,3635 gam loại Ketamine.
  4. [4] Xét nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo cho rằng: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nhưng mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này có 5 bị cáo cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo N là người rủ rê các bị cáo khác, ứng tiền trước để mua ma túy và thuê địa điểm cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo bị truy tố và xét xử với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt khởi điểm từ 07 năm tù đến 15 năm tù và với khối lượng ma túy còn lại các bị cáo đều bị xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 năm tù đến 05 năm tù. Căn cứ nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả và khối lượng ma túy, cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt đối từng bị cáo đều ở mức khởi điểm của khung hình phạt và tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ.

    Đối với quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày như nêu trên về việc các bị cáo được tặng giấy khen và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 để đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự là không có cơ sở nên không được chấp nhận, Hội đồng xét xử đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

    Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên Bản án sơ thẩm 75/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T.

  5. [5] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. [6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng N 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Hoàng N chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Đặng Gia L 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Đặng Gia L 01 (một) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đặng Gia L chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023.

  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Phùng T chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 08 (tám) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023.

Các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM; (3)
  • - PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh; (1)
  • - Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh; (1)
  • - Chi cục Thi hành án DS quận Bình Thạnh; (1)
  • - Bị cáo; (3)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (22). (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2025/HS - PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 212/2025/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Hoàng N, Đặng Gia L, Nguyễn Phùng T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger