Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 212/2025/DS-PT

Ngày 21 tháng 3 năm 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngát - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 666/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 191/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964; cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An; có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà M: Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Số A C, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; theo Giấy ủy quyền ngày 23/9/2023; có mặt.
  • - Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim C, sinh năm 1952; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Bà Đặng Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30/5/2022; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An; địa chỉ: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T; theo Giấy ủy quyền số 393/UQ-UBND ngày 10/6/2024; vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Ông Đặng Văn N, Nguyễn An Đ1, Trần Văn Đ2; cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An; có mặt.
  • - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H là Nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Theo trình bày của bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H: Thửa đất số 782 có nguồn gốc do ông H và bà M nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn B và bà Huỳnh Thị T vào năm 1990; khi chuyển nhượng, các bên chỉ lập giấy mua bán viết tay và chỉ ghi mua cái gò, không ghi chi tiết diện tích đất và không đo đạc thực tế. Năm 1997, ông H và bà M đăng ký, kê khai đất lần đầu. Trước khi nhận chuyển nhượng đất của ông B, bà T đã tồn tại sẵn bụi trải; mộ trên đất (khu C) là mộ của mẹ bà C, bà C có xin được chôn mẹ trên đất này vào năm 2004; khu B, C là đất biền được sử dụng làm đường đi cho máy cày lên xuống. Bà C đổ đất lên khu B, C nhưng không xác định được bao nhiêu khối đất. Nay bà M, ông H khởi kiện yêu cầu bà Chi T2 lại trả lại diện tích 44,4m² tại khu B, thuộc thửa 782 và diện tích là 585,5m² tại Khu C, thuộc thửa 1363, cùng Tờ bản đồ số 15; đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận của bà C đối với khu C. Trường hợp yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, bà M và ông H đồng ý hoàn trả lại giá trị đất đã đổ cho bà C.
  2. Theo trình bày của bà Đặng Thị Kim C: Thửa đất số 1363 có nguồn gốc của cụ Đặng Văn H1 cho cụ Đặng Thị S1 (mẹ bà C) từ trước năm 1975. Cụ S1 sử dụng đất tại khu B và khu C từ năm 1975 đến nay để cấy lúa, trồng tràm. Ngày 10/6/2022, bà C thuê ông Huỳnh Văn T1 đổ đất lên khu B, C, D và G (chỉ đổ đất trên diện tích 200m² của khu G do có nhà); trong đó tiền đổ đất khu B và C tổng cộng là 96.000.000 đồng. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà C yêu cầu ông H, bà M hoàn lại số tiền 94.600.000 đồng. Ngoài ra, trên phần diện tích đất tại khu B có bụi trải do cụ S1 trồng từ năm 1975, trên đất thuộc khu C có mộ của mẹ bà C chôn cất vào năm 2004, có xác nhận ranh giới đất của nguyên đơn. Vì vậy, bà C có đơn phản tố yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà M đối với khu B, đồng thời công nhận diện tích đất đang tranh chấp tại khu B, C thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà C.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với bà Đặng Thị Kim C.

    Buộc bà Đặng Thị Kim C có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M phần đất tại khu B, có diện tích 44,4m², thuộc thửa 782, Tờ bản đồ số 15.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M đối với yêu cầu bà Đặng Thị Kim Chi T2 lại phần đất tại khu C, có diện tích là 585,5m², thuộc thửa 1363, Tờ bản đồ số 15 và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C đối với khu C.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Kim C, xác định phần đất tại khu C, có diện tích là 585,5m², thuộc thửa 1363, Tờ bản đồ số 15, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đặng Thị Kim C.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Kim C đối với yêu cầu công nhận đất tại khu B, có diện tích 44,4m², thuộc thửa 782, Tờ bản đồ số 15 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà C và và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H đối với khu B.
  5. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm liên đới hoàn lại cho bà Đặng Thị Kim C chi phí đổ đất tại khu B là 6.668.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Vị trí khu B và khu C được xác định theo theo Mảnh trích đo địa chính số 222-2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T duyệt ngày 17 tháng 02 năm 2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/7/2024, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích đất tại khu C.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H và bà M trình bày: Thửa đất số 782 có nguồn gốc do ông H và bà M nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn B và bà Huỳnh Thị T vào năm 1990; khi chuyển nhượng, các bên chỉ lập giấy mua bán viết tay và chỉ ghi mua cái gò, không ghi chi tiết diện tích đất và không đo đạc thực tế. Năm 1997, ông H và bà M đăng ký, kê khai đất lần đầu, trong đó có phần diện tích đất tại khu C đang tranh chấp với bà C. Trong quá trình sử dụng đất, gia đình bà M, ông H đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất cho Nhà nước, trực tiếp quản lý và sử dụng đất ổn định, lâu dài. Vì vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận quyền sử dụng đất tại khu C cho nguyên đơn. Trường hợp yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận thì tạo điều kiện cho nguyên đơn có một lối đi chung vào đất tại khu B.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Kim C trình bày: Bà C sử dụng đất ổn định từ trước năm 1975, đã đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp vào năm 2004; khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H đã ký giáp ranh thừa nhận đất của bà C, đồng thời Ủy ban nhân dân huyện T cũng xác nhận việc cấp giấy chứng nhận cho bà C là đúng quy định pháp luật. Trước kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

  • - Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung: Diện tích đất tranh chấp tại khu C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C, được Ủy ban nhân dân huyện T xác nhận là hợp pháp, trên đất còn có ngôi mộ của mẹ bà C là cụ S1 tồn tại từ năm 2004. Vì vậy, có cơ sở xác định đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà C. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp đối với diện tích đất này là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

  1. [1] Đơn kháng cáo của ông ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M nộp trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự và người đại diện hợp pháp của các đương sự vắng mặt nhưng thuộc trường hợp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M như sau:
    1. [3.1] Theo Công văn số 1654/UBND-NC ngày 27/3/2023, Ủy ban nhân dân huyện T xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H trong đó có thửa đất số 782, Tờ bản đồ số 15, diện tích 1.403m², loại đất trồng cây lâu năm được thực hiện theo bản đồ địa chính mà không đo đạc thực tế. Ngày 01/10/2015, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 619533 cho bà Đặng Thị Kim C đối với thửa đất số 781, diện tích 400m², loại đất ở tại nông thôn và số CA 619534 thửa đất số 1363 (hợp một phần thửa 782 với một phần thửa 781), diện tích 2.841m², loại đất trồng cây lâu năm; khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C thì có đo đạc thực tế. Như vậy, có cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C là đúng quy định pháp luật; còn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H là chưa đúng pháp luật.
    2. [3.2] Tại Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 21/8/2014, ông H ký giáp ranh thửa đất số 782 với thửa đất số 1363 của bà C, theo đó xác định thửa 782 của ông H có cạnh phía Đông dài 21m, cạnh phía Nam dài 14m. Như vậy, có cơ sở xác định đất khu B nằm trong phạm vi xác định ranh của ông H thuộc thửa số 782; khu C nằm ngoài ranh giới do ông H xác định thì thuộc đất của bà C. Tại Biên bản hòa giải ngày 11/6/2021 của Ủy ban nhân dân xã L có nội dung xác định nguồn gốc đất là do bà C sử dụng ổn định từ trước năm 1975 đến nay, thuộc một phần thửa đất 782, và có chừa lại cho ông H một phần thửa đất 782 với diện tích ngang 14m, dài 21m, đến năm 2014 khi xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C thì ông H đồng ý ký giáp ranh. Mặt khác, những người làm chứng sinh sống lân cận diện tích đất tranh chấp cũng xác nhận đất tranh chấp có nguồn gốc từ cụ Đặng Văn H1 cho con là cụ Đặng Thị S1 (mẹ ruột của bà C) từ trước năm 1975; sau đó cụ S1 cho lại bà C; trước đó cụ S1 khai phá trồng tràm, không có ai tranh chấp; ông Lê Văn B là người chuyển lại diện tích đất khoảng 01ha lúa cho ông H vào năm 1989, nay thuộc thửa 748 nằm phía sau đất của bà C; ông B không chuyển nhượng đất trồng cây lâu năm cho ông H và xác định một phần thửa đất 782, diện tích 1.099m² là của bà C đã canh tác ổn định từ năm 1975 cho đến năm 2021 thì phát sinh tranh chấp với ông H và bà M. Những lời khai trên phù hợp với lời khai của ông Nguyễn An Đ1, ông Trần Văn Đ2, bà Nguyễn Thị A, ông Huỳnh Văn T1.
    3. [3.3] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2022 thể hiện hiện trạng đất tranh chấp tại khu C có một ngôi mộ của cụ Đặng Thị S1 (mẹ ruột của bà C) và có một bụi trải. Theo trình bày của bà M thì trước đây trên đất có tồn tại một số cây tràm tự nhiên sau đó cụ S đổ thêm đất lên; khi nhận chuyển nhượng đất vào năm 1989 đã có sẵn bụi trải trên đất; còn bà C thì cho rằng tràm do bà C trồng từ năm 1975 đến tháng 6/2022 thì thu hoạch. Như vậy, bà M không trồng tràm, trồng bụi trải trên đất tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và bà M thừa nhận khi bà C lập mộ cho cụ S1 thì ông H, bà M biết nhưng vì tình làng, nghĩa xóm nên không có ý kiến, tuy nhiên lời khai trên của ông H, bà M là không hợp lý nên không chấp nhận.
    4. [3.4] Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở xác định đất khu B thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H, còn đất khu C thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà C. Vì vậy, việc bà M và ông H khởi kiện yêu cầu bà Chi trả lại diện tích 44,4m² tại khu B là có cơ sở chấp nhận; còn đối với yêu cầu khởi kiện diện tích 585,5m² tại khu C là không có căn cứ chấp nhận.
    5. [3.5] Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thống nhất bà C đã chi phí đổ đất khu B, C với số tiền là 94.600.000 đồng. Vì vậy, ông H và bà M phải hoàn trả cho bà C chi phí đổ đất của 44,4m² với số tiền 6.668.000 đồng là phù hợp.
  4. [4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M và ông H không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới có giá trị pháp lý thay đổi nội dung và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

  • - Áp dụng: Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Tuyên xử:
  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M: Buộc bà Đặng Thị Kim C giao trả cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M phần đất tại khu B, diện tích 44,4m², thuộc thửa 782, Tờ bản đồ số 15.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M đối với bà Đặng Thị Kim C về yêu cầu trả lại phần đất tại khu C, diện tích là 585,5m² thuộc thửa 1363, Tờ bản đồ số 15 và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C đối với khu C.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Kim C về việc xác định phần đất tại khu C, có diện tích là 585,5m², thuộc thửa 1363, Tờ bản đồ số 15, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đặng Thị Kim C.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Kim C đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích 44,4m² tại khu B, thuộc thửa đất số 782, Tờ bản đồ số 15.
  5. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm liên đới hoàn lại cho bà Đặng Thị Kim C chi phí đổ đất tại khu B là 6.668.000 đồng.
  6. Vị trí khu B và khu C được xác định theo theo Mảnh trích đo địa chính số 222-2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T duyệt ngày 17 tháng 02 năm 2023
  7. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M phải liên đới chịu 16.275.000 đồng. Bà Đặng Thị Kim C phải chịu 1.225.000 đồng. Do bà C đã nộp tạm ứng 17.500.000 đồng nên ông H và bà M phải liên đới hoàn lại cho bà C 16.275.000 đồng.
  8. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  9. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị M và bà Đặng Thị Kim C được miễn án phí. Hoàn trả ông Nguyễn Văn H số tiền 2.748.000 đồng đã tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu số 0002461 ngày 26/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị M được miễn.

- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA - NTHN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 212/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger