TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 212/2025/DS-PT Ngày: 04 - 6 - 2025 V/v Đòi tài sản, chia thừa kế | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà;
Ông Nguyễn A Đam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Linh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 522/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi tài sản, chia thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 338/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 397/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Cụ Phạm Thị M năm: 1936; cư trú tại: ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1970; cư trú tại : Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau(theo Giấy ủy quyền ngày 08/02/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Ngọc L – Là Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Hồ Văn S năm: 1960; cư trú tại: ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị K; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Từ Thị Đ; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Bùi Văn C, sinh năm: 1950; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Ngô Thị N; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Lê Văn T; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Nguyễn Thị C1; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Lê Văn L1, sinh năm: 1957; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Hồ Phú M1, sinh năm: 1956; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Lê Văn T1; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Nguyễn Thị T2(Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1969; cư trú tại: Khóm F, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Nguyễn Mộng N1, sinh năm: 2000; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1975; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Hồ Huyền T4, sinh năm: 2003; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Lý Kim K1, sinh năm: 1968; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Hồ Thị B, sinh năm: 1977; cư trú tại: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Bà Hồ Thị Đ1, sinh năm: 1968; cư trú tại: Ấp E, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Hồ Thị M2, sinh năm: 1964; cư trú tại: Ấp D, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Hồ Quý X, sinh năm: 1963; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Ông Hồ Văn S13, sinh năm: 1955; cư trú tại: Ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông X: Luật sư Nguyễn Tố N3 – Là Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau
Người kháng cáo:
Cụ Phạm Thị M3 – là nguyên đơn.
Ông Hồ Quý X, ông Hồ Văn S13, Hồ Thị M2– là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Bà Hồ Thị H1 sư Quách Ngọc L, ông Hồ Văn Sông Hồ Quý X, Luật sư Nguyễn Tố N3 ông Hồ Văn S13, Hồ Thị M2có mặt tại phiên tòa; các đương sự khác vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện của bà Phạm Thị M3 và trình bày của người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị M3 trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Cụ Hồ Văn S2và cụ Phạm Thị M4 sống với nhau có 08 người con chung gồm: H15(chết lúc 20 tuổi, không có chồng, con). Ngoài ra, cụ S2và cụ M5 còn người con nào khác. Năm 2005, cụ S2chết không để lại di chúc.
Quá trình chung sống, vợ chồng cụ S2và cụ M có tạo lập được phần đất thổ cư và lập vườn có diện tích theo đo đạc thực tế là 11.940,2m² thuộc thửa số 0086, 0087, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại Ấp C, xã A, thành phố C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G471610 do Ủy ban nhân dân thị xã C cho cụ Hồ Văn S1 tên, là thửa 199 và thửa 184, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009. Năm 2004, cụ S2có cho bà H2 công, diện tích khoảng 2.578,8m² ở ngay vị trí bà H3 nhượng lại nền nhà của ông Nguyễn Văn T5 thửa 199, sau đó vợ chồng bà H4 nhà ở trên đất từ khi nhận sang nhượng đến nay.Còn ông Hồ Văn X1 đang quản lý, cất nhà ở một phần đất thuộc một phần đất của thửa số 184. Phần còn lại của thửa số 199 và 184 có diện tích là 8.841,1m² ông S sống và quản lý, sử dụng từ khi cụ S2mất (năm 2005) cho đến nay, ông S8 trồng trọt cây trái và đào ao nuôi cá và có nhà ở của ông S2 đất. Hiện ông S23 giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay cụ M22 cầu chia đôi phần đất có diện tích 8.841,1m² cho cụ M14 cụ S2mỗi người một nửa bằng 4.420,5m², cụ M6 phần đất của mình tại vị trí giáp đất bà H Ông S23 trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất của cụ M7 phải có trách nhiệm trả lại phần diện tích đất này cho cụ M
Phần đất còn lại 4.420,5m² của cụ S2cụ Myêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thành 08 phần cho cụ và 07 người con là ông H16 mỗi người hưởng kỷ phần diện tích 552.6m², yêu cầu nhận đất không yêu cầu chia giá trị.
Ngoài phần đất nêu trên, cụ S2và cụ M8 tạo lập được phần đất có diện tích đất 12.047,3m² thuộc thửa số 156 và một phần thửa 111, 155 và phần đất có diện tích 520,3m² thuộc một phần thửa số 167, 166 tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, cùng toạ lạc ấp C, xã A, Tp C, tỉnh Cà MauHiện phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ S2cụ Mhay ông S3 không có tên trong sổ mục kê, sơ đồ địa chính. Nguồn gốc phần đất này do ông S2khai phá năm 1964, là tài sản chung của cụ S2cụ MÔng Strực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ khi cụ S2chết cho đến nay, không tranh chấp với các hộ giáp ranh. Phần đất này được đề cập tại bản án số 116 ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về việc đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Phạm Thị M9 bị đơn ông Hồ Văn S4 nhưng chưa được giải quyết.
Nay cụ M yêu cầu chia đôi các phần đất này, tổng điện tích là 12.924m² cho cụ S2và cụ Mmỗi người một nửa bằng 6.462m², cụ M6 đất ở vị trí một phần thửa 167, 166, 156 và 111. Phần còn lại có diện tích 6.462m² của cụ S2thì cụ M22 cầu chia thừa kế theo pháp luật thành 08 phần cho cụ và 07 người con nêu trên, mỗi kỷ phần được hưởng diện tích 807,7m², yêu cầu nhận đất không yêu cầu chia giá trị.
Bà H5 đồng ý toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa, bà H6 rằng, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đò số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ đi diện tích nhà và lối đi vào
3
nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông S5 được chia cho phần đất ngay vị trí có nhà ông S23 ở theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e, có diện tích 1.830,2m². Với điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông S6 giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, XM2Đ1HBé quản lý, sử dụng, và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông S6 từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này.
Tại Đơn yêu cầu phản tố, bản tự khai, trình bày của bị đơn là ông Hồ Văn S4 trong quá trình giải quyết vụ án, bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Cha của ông là cụ Hồ Văn S7 cụ Phạm Thị M4 sống với nhau có 08 người con chung gồm: H15(chết lúc 20 tuổi, không có chồng, con). Ngoài ra, cụ S2và cụ M5 còn người con nào khác. Năm 2005, cụ S2chết không để lại di chúc.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông có ý kiến như sau:
Đối với phần đất thuộc thửa số 0086, 0087 tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mauđược Ủy ban nhân dân thị xã C chứng nhận quyền sử dụng đất số G471610 cho Hồ V1 S2ngày 10/8/1996, nay là thửa 199 và thửa 184, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, có nguồn gốc do cha ông và ông khai phá, đây là tài sản chung của cha mẹ ông. Hiện nay ông đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thực tế hiện nay, một phần đất của thửa số 184 là của ông Hồ Văn X2 X1đang quản lý, cất nhà ở. Một phần diện tích đất 2.578,8m² thuộc thửa 199 do bà H7 quản lý, sử dụng. Phần đất này cụ S31 không có cho bà H theo như bà H8 trình bày. Phần còn lại của thửa số 199 và 184 có diện tích là 8.841,1m² thì do ông quản lý, sử dụng từ khi cụ S2chết cho đến nay.
Ông không đồng ý chia hai phần đất này theo yêu cầu của nguyên đơn. Ông có công cùng với cha Hồ Văn S2khai phá và ở trên phần đất này từ khi sinh ra cho đến nay nên ông yêu cầu chia phần đất thuộc thửa 199, một phần thửa 184 với tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 11.940,2m² này thành 03 phần đều nhau cho cụ H17 Phạm Thị M3 và ông, mỗi người nhận một phần. Ông đồng ý giao trả cho cụ M11 lý, sử dụng một phần. Còn phần của cụ S2thì chia đều thành 08 phần cho cụ M và 07 người con, mỗi người nhận diện tích 475,8m². Ông yêu cầu nhận đất.
Đối với phần đất thửa 156, một phần thửa đất số 111 và 155, tờ bản đồ số 02 diện tích 12.047,3m², và một phần thửa đất số 167, 166, tờ bản đồ số 01, cùng tọa lạc ấp C, xã A, thành phố C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ M12 S2và ông. Các anh chị em khác cũng không có tên trong sổ mục kê, sơ đồ địa chính. Phần đất này do ông tự khai phá năm 1984, 1985 và quản lý, sử dụng liên tục cho đến nay nên thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông. Do đó, ông không đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất này theo yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, ông Hồ Văn S8 yêu cầu phản tố như sau:
Ông đã thanh toán nợ cho Ngân hàng thay cho cụ S2số tiền 11.385.000đ. Năm 2013, năm 2014, ông có sửa chữa nhà thờ cúng, là nhà của cụ M13 bản án số
4
116 ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về việc đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Phạm Thị M14 bị đơn ông Hồ Văn S4, hết 133.200.000đ, cất nhà mồ cho cha hết 63.500.000đ, tổng cộng là 208.085.000đ. Nay ông yêu cầu những người được hưởng thừa kế phần đất của cụ S2phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông mỗi người 26.010.000đ. Trường hợp Tòa án giao nhà thờ cúng cho ông tiếp tục quản lý, sử dụng mục đích thờ cúng thì không yêu cầu số tiền 133.200.000đ. Ông còn yêu cầu những người nhận thừa kế thanh toán cho ông giá trị cây trồng trên phần đất thuộc thửa 199, 184, tờ bản đồ số 02 theo giá trị thẩm định giá.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hồ Văn S9 ý rút lại các yêu cầu phản tố về tiền trả nợ dùm cho cụ S2là 11.385.000đ, tiền sửa chữa nhà thờ cúng của cụ M15 133.200.000đ, tiền xây nhà mồ là 63.500.000 đ, tổng cộng các khoản là 208.085.000đ và tiền giá trị cây trồng trên đất.
Và ông S10 đồng ý với phương án mà bà H9 các anh em đã đưa ra về việc, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đồ số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ đi diện tích nhà và lối đi vào nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông nhận phần đất có diện tích 1.830,2m² ngay vị trí có nhà ông đang ở theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e. Và đồng ý điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông phải giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, X1M2Đ1HBé quản lý, sử dụng và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này.
Phần đất còn lại thuộc các thửa 167, 166, 111, 156, 155, ông không đồng ý chia theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản tự khai và trình bày của ông Hồ Văn S13 trong quá trình giải quyết vụ án, bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà Hồ Thị H9 thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần đất 12.047,3m² do cha là cụ Hồ Văn S11 phá năm 1964, ông S21 có công khai phá. Từ năm 1984, 1985 ông S21 có ở địa phương. Vào khoảng những năm 1990, cha ông có cho ông Bùi Văn C2 một phần đất thuộc thửa 155, tờ bản đồ số 02, sau đó đôi bên có thỏa thuận giao cho ông C3 lý, sử dụng một phần, phần còn lại theo Bản vẽ hiện trạng ngày 26/9/2017 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cha ông quản ý sử dụng, sau đó ông S26 lý, sử dụng cho đến nay. Phần diện tích đất này hiện nay không tranh chấp với các hộ giáp ranh và các hộ có tên trong sổ mục kê.
Ông không có ý kiến gì về việc tại phiên tòa, ông S12 một phần yêu cầu phản tố về tiền trả nợ dùm cho cụ S2là 11.385.000đ, tiền sửa chữa nhà thờ cúng của cụ M15 133.200.000đ, tiền xây nhà mồ là 63.500.000đ, tổng cộng các khoản là 208.085.000đ và tiền giá trị cây trồng trên đất.
Tại phiên tòa, ông cũng đồng ý với ý kiến của bà H10 việc, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đồ số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ
5
đi diện tích nhà và lối đi vào nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông S5 được chia cho phần đất ngay vị trí có nhà ông S23 ở theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e, có diện tích 1.830,2m². Với điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông S6 giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, XM2Đ1HBé quản lý, sử dụng, và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông S6 từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này.
Tại bản tự khai và trình bày của ông Hồ Quý X3 quá trình giải quyết vụ án, bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Ông thống nhất với trình bày của bà Hồ Thị Hông Hồ Văn S13 và thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn Hồ Văn SĐối với phần đất 12.047,3m² có được đề cập tại bản án số 116 ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về việc đòi lại tài sản giữa nguyên đơn bà Phạm Thị M9 bị đơn ông Hồ Văn S14 nhiên, bản án trên chỉ giải quyết tranh chấp đòi tài sản và xác định các đương sự có quyền khởi kiện chia thừa kế trong vụ án khác. Ông không đồng ý chia đất thành 03 phần như ông S15 cầu, yêu cầu chia thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, ông cũng đồng ý với ý kiến của bà H10 việc, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đồ số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ đi diện tích nhà và lối đi vào nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông S5 được chia cho phần đất ngay vị trí có nhà ông S23 ở theo như theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e, có diện tích 1.830,2m². Với điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông S6 giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, XM2Đ1HBé quản lý, sử dụng, và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông S6 từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này.
Ông không có ý kiến gì về việc tại phiên tòa, ông S12 một phần yêu cầu phản tố về tiền trả nợ dùm cho cụ S2là 11.385.000đ, tiền sửa chữa nhà thờ cúng của cụ M15 133.200.000đ, tiền xây nhà mồ là 63.500.000đ, tổng cộng các khoản là 208.085.000đ và tiền giá trị cây trồng trên đất.
Tại bản tự khai và trình bày của Bà Hồ Thị M2 trong quá trình giải quyết vụ án, bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Bà thống nhất với lời trình bày của bà Hồ Thị H11 Hồ Văn Slông Hồ Quý XThống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn Hồ Văn S4, không đồng ý chia đất thành 03 phần như ông S15 cầu.
Tại phiên tòa, bà cũng đồng ý với ý kiến của bà H10 việc, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đồ số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ đi diện tích nhà và lối đi vào nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông S5
6
được chia cho phần đất ngay vị trí có nhà ông S23 ở theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e, có diện tích 1.830,2m². Với điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông S6 giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, XM2Đ1HBé quản lý, sử dụng, và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông S6 từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này. Bà không có ý kiến gì về việc ông S12 yêu cầu phản tố tại phiên tòa.
Tại bản tự khai và trình bày của bà Hồ Thị B1 quá trình giải quyết vụ án, bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Bà thống nhất với lời trình bày của bà H11 Slông Xbà M2, thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, không đồng ý chia đất thành 03 phần như ông S15 cầu.
Tại phiên tòa, bà cũng đồng ý với ý kiến của bà H10 việc, đối với thửa đất số 199, một phần thửa 184, tờ bản đồ số 2, bản đồ chỉnh lý năm 2009. Sau khi trừ đi diện tích nhà và lối đi vào nhà cụ M10 tích nhà mồ và lối đi vào nhà mồ, ông S5 được chia cho phần đất ngay vị trí có nhà ông S23 ở theo như bản vẽ ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận bổ sung điểm mốc M6e, có diện tích 1.830,2m². Với điều kiện, phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m², ông S6 giao lại cho cụ M14 những người thừa kế còn lại của cụ S2là các anh em: Sanh, XM2Đ1HBé quản lý, sử dụng, và tự thỏa thuận, định đoạt. Ông S6 từ chối, không có quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản hay chia thừa kế đối với phần đất còn lại có diện tích 9.310,8m² này. Bà không có ý kiến gì về việc ông S12 yêu cầu phản tố tại phiên tòa.
Tại bản tự khai và trình bày của bà Hồ Thị Đ1 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất lời trình bày của ông S16 thống nhất toàn bộ yêu cầu phản tố của ông SĐối với phần đất diện tích 10.990m² thuộc thửa số 0086, 0087, tờ bản đồ số 03, bà đồng ý chia phần đất này thành 03 phần theo như ý kiến của ông S17 lẽ, ông S22 người phụng dưỡng cha mẹ, trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ trước đến nay. Riêng phần đất 12.047,3m² thuộc thửa 111, 155, 156, tờ bản đồ số 02, do ông S2cho ông S18 tiếp quản lý, sử dụng liên tục từ lúc ông S2còn sống cho đến nay nên phần đất này của ông S
Tại bản tự khai của ông Nguyễn Văn N2 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Vào năm 2002, ông và vợ là bà Hồ Thị H12 mua 01 nền nhà của ông Nguyễn Văn T6 nhà này nằm trong phần đất của cha vợ là ông Hồ Văn S19 mẹ vợ thấy vậy mới cho tiếp bà H2 công tầm lớn nối liền theo nền nhà đã mua. Còn việc chia thừa kế, bà Hồ Thị H12 quyền quyết định theo việc bà Phạm Thị M16 ủy quyền.
7
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 13/4/2023 của bà Lý Kim K1 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Bà là vợ của ông Hồ Văn S20 hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông Hồ Văn S21 có ý kiến nào khác. Do bận công việc nên bà xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, hòa giải, xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai của chị Hồ H13 T4 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Thống nhất với ý kiến của ông Hồ Văn S22 cha chị. Xin vắng mặt tại các cuộc hòa giải cũng như các phiên tòa xét xử.
Trình bày của ông Lê Văn L2 Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.918,3m² tọa lạc tại ấp C, xã A, thành phố C nay ông Hồ Văn S23 quản lý, sử dụng nhưng ông đứng tên trên sổ mục kê và sơ đồ địa chính, lý do vì trước đây chính sách nhà nước kê khai đất đai, chụp không ảnh nên không chính xác. Hiện nay ông không quản lý, sử dụng phần đất này và cũng không có tranh chấp với ông SViệc bà M17 kiện ông S24 vụ án này, ông không có ý kiến gì. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày của bà Nguyễn Thị C4 biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Bà là vợ của ông Lê Văn L3 thống nhất với trình bày của ông Lê Văn L4 bổ sung gì thêm. Do bận công việc nên bà xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày ông Lê Văn T7 bà Ngô Thị N4 Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Thửa đất số 166 tờ bản đồ số 2 diện tích 3.465,5m² tọa lạc tại ấp C, xã A, thành phố C ông đứng tên trên sổ mục kê đất đai và sơ đồ địa chính. Hiện nay ông cũng đang quản lý, sử dụng thửa đất trên. Nguồn gốc đất là do cha ruột của ông là ông Lê Văn D cho. Hiện nay ông không có tranh chấp gì với ông Hồ Văn S25 vẫn chưa làm thủ tục tách thửa đối với phần đất này, quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông Lê Văn D1 bà M17 kiện ông S25 không có ý kiến, yêu cầu gì. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày của ông Hồ P Mltại Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Thửa đất số 156, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại Ấp C, xã A, thành phố C nguồn gốc của ông Lê Văn T8 nhận chuyển nhượng phần đất này của ông Tlcách đây hơn 20 năm, giá chuyển nhượng là 20.000.000đ. Ông đã giao đủ tiền cho ông Tlvà quản lý, sử dụng đất khoảng 20 năm nay, không tranh chấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lê Văn T9 nay ông vẫn chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Việc bà M17 kiện ông S25 không có ý kiến, yêu cầu gì. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày của bà Bùi Thị K2 Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá
8
trình giải quyết vụ án thể hiện: Bà là hộ giáp ranh với phần đất của ông Hồ Văn S21 có tranh chấp gì với ông SViệc bà M17 kiện ông S20 không có ý kiến, yêu cầu gì. Do bận công việc nên bà xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày của ông Bùi Văn C5 Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Thửa đất số 155, tờ bản đồ số 02, diện tích 8.893m² tọa lạc tại Ấp C, xã A, thành phố C của ông đứng tên trên sổ mục kê và sơ đồ địa chính, tuy nhiên ông đã giao cho ông Hồ Văn S26 lý, sử dụng khoảng hơn 20 năm. Hiện nay ông S23 quản lý, sử dụng, ông không có tranh chấp. Việc bà M17 kiện ông S25 không có ý kiến, yêu cầu gì. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Trình bày của bà Từ Thị Đ2 Biên bản ghi ý kiến ngày 31/5/2024 trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Thống nhất với trình bày của ông Bùi Văn C6 có ý kiến bổ sung. Do bận công việc nên bà Đ3 H1xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa xét xử cũng như các giai đoạn tố tụng khác.
Tại biên bản xác minh tại chính quyền địa phương ngày 04/7/2024 của Tòa án thành phố Cthể hiện: Thửa đất 111, 156, 155 tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại Ấp C, xã A, thành phố C ông Hồ Văn S26 lý, sử dụng từ trước đến nay. Tuy nhiên, theo sổ mục kê và sơ đồ địa chính thể hiện đứng tên chủ sử dụng là các ông bà Nguyễn Thị T2Bùi V CLê Văn T1Thực tế hiện nay, phần đất của các ông bà Nguyễn Thị T2Bùi V CLê Văn T1quản lý, sử dụng ổn định, không tranh chấp với phần đất mà ông Hồ Văn S23 quản lý, sử dụng.
Tại Công văn số 990/CNVPĐKĐĐ ngày 23/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện: Tên chủ sử dụng đất thể hiện tại sổ mục kê, sơ đồ địa chính các năm 1999, 2009 đối với các thửa 111, 155, 156, tờ bản đồ số 02 so với thực tế có sự khác nhau là do đơn vị đo đạc thành lập bản đồ trong quá trình điều tra, khảo sát thu thập thông tin thể hiện. Các thửa đất này có được xem xét cấp giấy chứng nhận hay không, yêu cầu Tòa án liên hệ đến U X2thành phố C được cung cấp thông tin. Các thửa 199, 184, 111, 155, 156 tờ bản đồ số 02 năm 2009 chưa thể hiện biến động.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 338/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Phạm Thị M3.
- Buộc ông Hồ Văn S27 cho cụ Hồ Thị M18 những người thừa kế khác của cụ Hồ Văn S28 các ông, bà Hồ Văn S1Hồ V1 X1Hồ Thị M2Hồ Thị Đ1Hồ Thị HHồ Thị Bphần đất có diện tích 9.310,8m² thuộc thửa số 3, 4, 6, 8, 9, 13 của Bản vẽ hiện trạng ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Quan trắc - Tài nguyên và môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận ghi thêm mốc M6e của các đương sự, có vị trí, tứ cận như sau:
+ Thửa số 8, 9: Phía Đông giáp với phần đất mà ông Hồ Văn X4 ông Hồ Văn S29 xác định có mốc từ M4 đến M6 cạnh dài 84,63m. Phía Tây giáp thửa số 7, 11
9
có mốc từ M6aM6eM6d đến M3d. Phía Nam giáp với lộ bê tông có mốc từ M6 đến M6b cạnh dài 40,24m. Phía Bắc giáp với phần đất ông Hồ Văn X4 ông Hồ Văn S29 xác định có mốc từ M3d đến M4 cạnh dài 30,27m.
+ Thửa số 3,4,6,13: Phía Đông giáp với phần đất chia cho ông S(thửa số 7, 11) và giáp với nhà cụ M5có mốc từ M8c đến M3a cạnh dài 70,03m và mốc từ M8b đến M8c. Phía Tây giáp với bờ đất có mốc từ M14 đến M20 cạnh dài 101,85m. Phía Nam giáp với lộ bên tông có mốc từ M8b đến M14 cạnh dài 54,65m. Phía Bắc giáp với phần đất thuộc thửa số 1 có mốc từ M20 đến M3 có cạnh dài 39,55m, và giáp với phần đất mà ông Hồ Văn X4 ông Hồ Văn S29 xác định có mốc từ M3 đến M3a cạnh dài 17,62.
- Buộc cụ Hồ Thị M18 những người thừa kế khác của cụ Hồ Văn S28 các ông, bà Hồ V Thị M2Hồ Thị Đ HHồ Thị Bgiao cho ông Hồ Văn S4 toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt phần đất có diện tích 1.830,2m², thuộc thửa số 7, 11 Bản vẽ hiện trạng ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận ghi thêm mốc M6e của các đương sự, có vị trí, tứ cận như sau:
+ Phía Đông giáp với phần đất nhà mồ và phần đất thửa số 8,9 có mốc từ M7a đến M3d, cạnh dài 88,19m. Phía Tây giáp với thửa số 3,4,6,13, có mốc từ M8b đến M3a cạnh dài 99,62m. Phía Bắc giáp với phần đất mà ông Hồ Văn X4 ông Hồ Văn S29 xác định có mốc từ M3a đến M3d, cạnh dài 20,6m. Phía Nam giáp với lộ bê tông có mốc từ M7a đến M8 cạnh dài 14,67m và có mốc từ M8d đến M8c cạnh dài 6,5m.
(Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 18/9/2024 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C chữ ký xác nhận ghi thêm mốc M6e của các đương sự).
2/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Phạm Thị M19 với yêu cầu đòi lại tài sản và chia thừa kế đối với thửa đất số 156 và một phần các thửa số 111, 155 có tổng diện tích là 12.403,7m² tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009 và một phần thửa 167, 166, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009 có tổng diện tích 520,3m².
3/ Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của ông Hồ Văn S30 với khoản tiền trả nợ thay cho cụ S2là 11.385.000đ, tiền sửa chữa nhà thờ cúng của cụ M15 133.200.000 đồng, tiền xây nhà mồ là 63.500.000 đồng, tổng cộng các khoản là 208.085.000đ và tiền giá trị cây trồng trên đất.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04 và 07/10/2024 Ông Hồ Quý X5 Phạm Thị M20 Hồ Thị M2và ông Hồ V1 S1kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
Yêu cầu công nhận phần đất tổng diện tích 12.924 m² tại thửa đất số 156 và một phần các thửa đất số 111, 155, 167, 166 tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009; tọa lạc ấp C, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Maulà tài sản chung
10
của cụ Phạm Thị M14 cụ Hồ Văn S31 và yêu cầu ông Hồ Văn S32 lại phần đất này cho cụ M14 các đồng thừa kế của ông Hồ Văn S31
- Yêu cầu chia ½ diện tích đất nêu trên tương đương 6.462 m² cho cụ Phạm Thị Mquản L5, sử dụng.
Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất diện tích 6.462m² là di sản thừa kế của cụ Hồ Văn S33 lại thành 08 kĩ phần. Ông Hồ Quý X5 Phạm Thị M20 Hồ Thị M2và ông Hồ Văn S13 yêu cầu mỗi người được nhận 01 kỉ phần với diện tích 807,8 m² để quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Hồ Thị H14 diện theo ủy quyền của cụ Phạm Thị M3, ông Hồ Quý X6 Hồ Thị M2và ông Hồ Văn S13 xác định kháng cáo yêu cầu ông Hồ Văn S32 cho cụ Phạm Thị M21 của 02 phần đất; ½ của 02 phần đất còn lại chia thừa kế. Cụ thể, phần đất thứ nhất gồm một phần thửa 166, 167, diện tích 520,3m²; phần đất thứ hai gồm thửa 156 và một phần các thửa 111, 155, diện tích 12.403,7m².
Luật sư Quách Ngọc L6 Luật sư Nguyễn T10 N3xác định có căn cứ chứng minh 02 phần đất các đương sự kháng cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ Hồ Văn S7 cụ Phạm Thị M22 cầu chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn Hồ Văn S4 không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của cụ Mông X7 M2và ông Slông S yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 338/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau với lý do cấp sơ thẩm chưa xác định các phần đất có kháng cáo nguồn gốc cụ thể như thế nào, chưa làm rõ các phần đất thuộc sở hữu của ai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn kháng cáo của ông Hồ Quý X5 Phạm Thị M20 Hồ Thị M2và ông Hồ Văn S13 nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
Xét kháng cáo của cụ Phạm Thị M3, ông Hồ Quý X, bà Hồ Thị M23 ông Hồ Văn S13, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Tại biên bản làm việc vào ngày 06/5/2025 đối với ông Bùi Văn Công C7 bày: “... Nguồn gốc đất thửa số 155 là của tôi, khi đó ông S2lấy đất của tôi để làm vuông, nhiều lần tôi có ý định nhờ chính quyền địa phương can thiệp tuy nhiên thời điểm đó do thấy diện tích không nhiều nên tôi bỏ qua. Sau khi ông S2mất để cho ông S26 lý, sử dụng cho đến nay. Thời điểm đó đất chưa có giấy chứng nhận
11
quyền sử dụng. Do khi ông S2còn sống cùng ông S(con trai út) nên khi mất ông S2để lại cho ông S26 lý sử dụng. Hiện nay không còn tranh chấp phần đất đó. Hiện phần đất do ông Squản L7 và sử dụng đến nay”. (bút lục 1015).
[2] Tại Biên bản làm việc vào ngày 06/5/2025 đối với ông Trần Vũ L8 Công chức địa chính Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Cà MauÔng L2trình bày: “Do bản đồ mục kê khai tên không đúng, căn cứ vào công văn số 996/CV-VPĐKĐĐ ngày 23/10/2023. Hiện nay phần đất các thửa do ông S26 lý sử dụng, hiện nay các thửa chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Thực tế, các thửa đất do ông S26 lý sử dụng từ trước tới nay. Công văn số 990 có nêu việc kê khai sai là do đơn vị đo đạc thành lập bản đồ trong quá trình điều tra, khảo sát thu thập thông tin thể hiện”. (bút lục 1016).
[3] Bản án dân sự sơ thẩm số 338/2024/DS-ST ngày 20/9/2025 nhận định đối với thửa đất số 156 và một phần thửa đất số 167, 166, 111, 155: “... Tại Sổ mục kê từ năm 1994 đến năm 2009 đều thể hiện, thửa đất số 155 đứng tên hộ ông Bùi Văn C8 đất số 156 đứng tên hộ ông Lê Văn T11 đất số 111 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị T12 đất số 166 đứng tên hộ ông Lê Văn T7 thửa đất số 167 đứng tên hộ ông Lê Văn L9 thửa đất này đều được các hộ giáp ranh, chính quyền địa phương xác định không có tranh chấp. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Cxác định các thửa đất này chưa thể hiện biến động...”
[4] Cấp sơ thẩm nhận định như theo mục [3], là khác so với những lời trình bày tại Biên bản làm việc do cấp phúc thẩm xác minh, thể hiện tại các mục [1] và [2]. Từ đó cho thấy cấp sơ thẩm chưa làm rõ các phần đất tranh chấp theo thửa đất số 156 và một phần các thửa số 111, 155, 166, 167 tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009 là của ông Bùi Văn CLê V2 T1Nguyễn Thị T2Lê Văn TLê Văn Llhay của cụ Hồ Văn S34 của ông Hồ Văn S35 chỉ dựa vào Sổ mục kê đứng tên những người nêu trên, để không chấp nhận một phần yêu cầu của cụ M về 02 phần đất nêu trên, là chưa có căn cứ.
[5] Bên cạnh đó, ông Hồ Văn S8 đơn phản tố, yêu cầu công nhận phần đất theo thửa 156 và một phần các thửa 111, 155 có diện tích 12.403,7m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông, mà cấp sơ thẩm không xác định có chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu phản tố này, là chưa giải quyết triệt để vụ án.
[6] Từ những thiếu sót trong thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án như nêu trên, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, do đó cần phải hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 338/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về yêu cầu khởi kiện đối với phần đất theo thửa đất số 156 và một phần các thửa số 111, 155 tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, có tổng diện tích là 12.403,7m² và đối với phần đất một phần thửa đất số 166 và 167, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009 có tổng diện tích 520,3m²; chuyển hồ sơ vụ án cho tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa. Do hủy án nên Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung kháng cáo của các đương sự.
12
[7] Chi phí tố tụng:
Ông S có trách nhiệm hoàn trả cho cụ M24 chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và tiền thẩm định giá, tổng cộng là 7.922.000đ.
Cụ M25 chịu chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và tiền thẩm định giá, tổng cộng là 41.509.000đ (cụ M16 nộp đủ).
[8] Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Mông S36 miễn nộp án (đã được xét miễn dự nộp).
Án phí dân sự phúc thẩm: Cụ M, ông X, bà M2và ông S13 không phải nộp (đã được miên dự nộp).
[9] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 338/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về yêu cầu khởi kiện đối với phần đất gồm thửa đất số 156 và một phần các thửa số 111, 155 tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, có tổng diện tích là 12.403,7m² và đối với phần đất gồm một phần thửa đất số 166 và 167, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009 có tổng diện tích 520,3m²; chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Chi phí tố tụng:
Ông Hồ Văn S4 có trách nhiệm hoàn trả cho cụ Phạm Thị M24 chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và tiền thẩm định giá, tổng cộng là 7.922.000đ (bảy triệu chín trăm hai mươi hai ngàn đồng).
Cụ Phạm Thị M25 chịu chi phí xem xét, đo đạc, thẩm định tại chỗ và tiền thẩm định giá, tổng cộng là 41.509.000đ (cụ M16 nộp xong).
- Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Phạm Thị Mông Hồ Văn S36 miễn.
Án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Phạm Thị M3, ông Hồ Quý X, bà Hồ Thị M23 ông Hồ Văn S13 không phải nộp.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Chi cục dân Thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM 13 |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn A Đam - Hoàng Thị Hải Hà | Đỗ Cao Khánh |
14
15
Bản án số 212/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi tài sản, chia thừa kế
- Số bản án: 212/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản, chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp quyền sử dụng đất giữa Phạm Thị Mãnh- Hồ Văn Son
