Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2025/DS-PT

Ngày 03-4-2025

V/v tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài
Ông Nguyễn Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hoàng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 529/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 77/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1958; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người đại diện hợp pháp: Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt và ông Lê Thành D, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/01/2022);

- Bị đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị Kim A, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương;

    Người đại diện hợp pháp của bà Kim A: ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 01/6/2020); có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

  2. Bà Bùi Thị Kim H2, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  3. Bà Nguyễn Thị Mai H3, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

  4. Bà Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1996; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  5. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1947, chết ngày 13/02/2019.

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đặng Văn B:

    • Ông Ngô Văn M, sinh năm 1959; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1964; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Ông Ngô Minh H5, sinh năm 1968; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Bà Ngô Thị Ngọc D1, sinh năm 1975; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Ông Ngô Minh H6, sinh năm 1977; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Cùng địa chỉ: tổ A, ấp T, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    • Ông Đặng Ngọc M1, sinh năm 1966; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Ông Đặng Văn L2, sinh năm 1978; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    • Cùng địa chỉ: tổ A, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    • Bà Ngô Thị Ngọc D2, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
    • Ông Ngô Minh H7, sinh năm 1970; địa chỉ: số G khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
    • Bà Ngô Thị Ngọc B1, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ F, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  6. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn L3, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, là người đại diện ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 09/GUQ-UBND ngày 05/01/2022); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  7. Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị Bảo X, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  8. Bà Bồ Thị N, sinh năm 1946; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của bà N: Bà Lưu Thị Kim H8, sinh năm 1974; thường trú: số F Đ, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: 2 đường V, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 18/11/2020); có mặt.

  9. Ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; địa chỉ: tổ B, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Bà Phan Thị Bạch Y, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  2. Bà Phan Thị Hồng V, sinh năm 1958; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1938 (đã chết).

Người kháng cáo:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H3 và bà Bồ Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Cha mẹ của bà Bùi Thị L là cụ Bùi Văn N1 (đã chết) và cụ Nguyễn Thị T1 (chết năm 2016). Cụ N1 chết trước cụ T1. Cụ N1 và cụ T1 có 03 người con gồm: bà Bùi Thị L, bà Bùi Thị Kim A và ông Bùi Văn B2 (chết năm 2011). Ông B2 có vợ là bà Lê Thị H1 và có 03 người con gồm: bà Bùi Thị Mai N2 (chết năm 2001), bà N2 có 02 người con là Nguyễn Thị H9 và Nguyễn Thị Mai H3, ông Bùi Văn T2 (chết năm 2008, không có vợ, con) và bà Bùi Thị Kim H2. Cụ N1 và cụ T1 không có người con nuôi, con riêng nào khác.

Khi cụ T1 còn sống, mẹ chồng cụ T1 là cụ Ngô Thị K có để lại cho cụ T1 diện tích đất 1.188m², thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02, tại ấp B, xã B, thành phố T. Cụ T1 đã xây dựng nhà, trồng cây lâu năm, sinh sống trên thửa đất số 84 từ khi được cụ K cho đất đến khi chết. Do điều kiện khó khăn nên cụ T1 chưa làm thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông B2 kết hôn với bà Lê Thị H1, cụ T1 cho ông B2 xây dựng căn nhà cấp 4 trên một phần đất thuộc thửa số 84. Năm 2011, ông B2 chết, cụ T1 mới biết được ông B2 đã tự ý đi đăng ký, kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00016 ngày 22/8/1995, đến ngày 05/11/2010 ông B2 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00168. Sau khi ông B2 chết, cụ T1 nhiều lần yêu cầu bà Lê Thị H1 trả lại thửa đất số 84 nhưng bà H1 không đồng ý vì cho rằng đất do ông B2 để lại cho bà H1. Năm 2016, cụ T1 chết, bà L yêu cầu bà H1 trả lại đất để phân chia thừa kế theo pháp luật nhưng bà H1 không đồng ý. Do vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00168 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Bùi Văn B2 vào ngày 05/11/2010, phân chia di sản thừa kế đối với diện tích đất đo đạc thực tế theo mảnh trích lục địa chính ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T là 1.246,4m², thuộc thửa đất số 84 và căn nhà cấp 4 diện tích 91,6m², 01 căn nhà tạm diện tích 07m², 01 chuồng gà diện tích 04m², 10 cây bưởi, 03 cây mít, 04 cây me, 03 cây mai, 02 cây quý, 20 cây chuối đang thu hoạch.

Tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/4/2024, nguyên đơn bà L và bị đơn bà H1 thống nhất được nội dung thỏa thuận như sau: Bà H1 đồng ý chia cho bà L diện tích đất 300m², trong đó có 100m² đất thổ cư, 200m² đất trồng cây lâu năm, vị trí đất này nằm tại cạnh hướng Nam của thửa đất số 84. Đối với tài sản trên đất của ai được chia thì người đó được quyền quản lý, sử dụng không phải thanh toán giá trị, đối với chuồng bò diện tích 15,2m² bà H1 sẽ tự tháo dỡ, di dời. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn thay đổi yêu cầu về việc kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B2 để cấp lại cho các đương sự.

Bà L xin rút yêu cầu khởi kiện về việc chia di sản thừa kế là căn nhà cấp 4 diện tích 91,6m² kết cấu tường xây tô, nền lát gạch bông, mái tôn, 01 căn nhà tạm diện tích 07m², 01 chuồng gà diện tích 04m², 10 cây bưởi, 03 cây mít, 04 cây me, 03 cây mai, 02 cây quý, 20 cây chuối đang thu hoạch.

Đối với phần đất 52m² thuộc đường đất, 6,6m² thuộc thửa đất số 83 và 09m² thuộc thửa đất số 75 của ông Ngô Văn T, nguyên đơn không tranh chấp phần đất này.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị L vẫn giữ nguyên nội dung thỏa thuận ngày 15/4/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với đơn yêu cầu độc lập của bà Bồ Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị H1 diện tích 173,2m², bà N nhiều lần nộp đơn yêu cầu độc lập nhưng sau đó không sửa đổi, bổ sung đơn, Tòa án đã trả lại đơn yêu cầu độc lập. Nay bà lại tiếp tục nộp đơn là gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án nên đề nghị Tòa án không thụ lý đơn yêu cầu độc lập của bà N.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn Bé B3 trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về quan hệ huyết thống. Về thửa đất tranh chấp, bị đơn không đồng ý với ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vì thửa đất số 84 không phải là di sản thừa kế của cụ T1. Thửa đất này có nguồn gốc do cụ Ngô Văn T3 và Nguyễn Thị V1 (ông bà cố) của nguyên đơn, bị đơn để lại. Năm 1966, các đồng thừa kế của hai cụ đã thỏa thuận cho cụ Ngô Thị K (bà nội chồng) phần đất này. Cụ K quản lý, sử dụng đất đến lúc cụ chết (năm 1971).

Cụ K có chồng là cụ Bùi Văn B4 (chết năm 1898). Hai cụ có 01 người con là Bùi Văn N1, sinh năm 1935, chết năm 1961 (chồng cụ Nguyễn Thị T1). Sau khi cụ K chết vào năm 1971, ông B2 là người quản lý, sử dụng phần đất này, đến năm 1995 tiến hành đăng ký, kê khai xin cấp giấy CNQSDĐ. Đây là di sản thừa kế của ông B2, không phải là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T1.

Tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/4/2024, nguyên đơn và bị đơn thống nhất được nội dung thỏa thuận như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung thỏa thuận ngày 15/4/2024 về việc chia cho bà Bùi Thị L 300m² trong đó có 100m2 đất thổ cư, 200m² đất trồng cây lâu năm. Đối với phần đất còn lại, bà H1 đồng ý để bà Bùi Thị L cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với phần đất 52m² thuộc đường đất, 6,6m² thuộc thửa đất số 83 và 09m² thuộc thửa đất số 75 của ông Ngô Văn T, nguyên đơn không tranh chấp phần đất này.

Đối với đơn yêu cầu độc lập của bà Bồ Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị H1 diện tích 173,2m², bị đơn thống nhất ý kiến của nguyên đơn, nếu tranh chấp đề nghị bà N khởi kiện bằng một vụ án khác.

- Đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà Bùi Thị Kim A là ông Bùi Tấn Đ trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ huyết thống. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp, bà A thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn. Bà A là người sinh sống trên thửa đất tranh chấp từ khi sinh ra cho đến nay. Cụ T1 sinh sống trên đất và có xây dựng 01 căn nhà cấp 4 sinh sống cùng ông Đặng Văn B nhưng không đăng ký kết hôn. Thời điểm ông B2 kết hôn với bà H1, cụ T1 cho ông B2 thửa đất này để canh tác, trồng trọt, không cho đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà A biết việc ông B2 đăng ký, kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, bà A đồng ý với nội dung bà L và bà H1 thỏa thuận ngày 15/4/2024, đối với phần đất còn lại bà A yêu cầu được đứng tên đồng sử dụng chung với bà H1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị Mai H3 trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn về quan hệ huyết thống. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H3 không đồng ý vì thửa đất số 84 không phải là di sản thừa kế của cụ T1, đây là di sản thừa kế của ông B2, bà H3 là con của bà Bùi Thị N2 nên được hưởng thừa kế của ông B2 theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Kim H2 trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của bị đơn bà Lê Thị H1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn B trình bày tại bản tự khai ngày 16/01/2018: Năm 1965, ông B sống chung cùng bà T1 nhưng không có đăng ký kết hôn, không có con chung. Bà T1 có 03 người con riêng gồm ông B2, bà L, bà A. Do mối quan hệ giữa bà T1 với mẹ chồng là bà Ngô Thị K không tốt nên bà T1 và 03 người con chuyển về sinh sống tại nhà của ông B từ năm 1965. Đến năm 1971, cụ Ngô Thị K chết. Do ông B2 là cháu trai duy nhất nên cụ K đồng ý cho ông B, bà T1 về sinh sống trên thửa đất số 84, còn giấy tờ bằng khoán đất vẫn do em trai của cụ K giữ, khi nào ông B2 thành niên thì giao lại cho ông B2 thừa hưởng và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên. Năm 1995, ông B2 đăng ký cấp đất và có báo với ông B và bà T1, ông bà đều đồng ý để ông B2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với tài sản trên đất, năm 1976 khi ông B2 kết hôn với bà H1, ông B và bà T1 giao trả lại căn nhà cấp 4 cho ông B2, ông B và bà T1 có xây dựng 01 căn nhà tạm trên thửa đất số 84. Năm 2001, con gái ông B2 là bà Bùi Thị Mai N2 chết, ông B2 nuôi cháu H9, còn vợ chồng ông B, bà T1 nuôi cháu H3. Căn nhà vợ chồng ông B sinh sống bị xuống cấp nên năm 2006, ông B có bỏ 30.000.000 đồng để xây mới lại, năm 2017 cháu H3 xây dựng kiên cố như hiện nay. Trước yêu cầu khởi kiện của bà L, ông B không đồng ý.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B gồm ông Đặng Ngọc M1, ông Đặng Văn L2, bà Ngô Thị L1, ông Ngô Minh H6, ông Ngô Minh H5, ông Ngô Văn M, bà Ngô Thị Ngọc D1, bà Ngô Thị Ngọc B1, bà Ngô Thị Ngọc D2, ông Ngô Văn H10 không có yêu cầu gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Ngô Văn T trình bày: Ông T có mối quan hệ họ hàng với nguyên đơn, bị đơn. Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do ông bà để lại cho cô ruột ông T là cụ Ngô Thị K, sau đó cụ K để lại đất cho ai thì ông T không biết. Quá trình sinh sống gần thửa đất tranh chấp, ông T biết được lần lượt cụ K, cụ T1 và ông B2 là người quản lý, sử dụng đất.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00168 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Bùi Văn B2 trên cơ sở cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00016 ngày 22/8/1995, không đo đạc thực tế. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 26/10/2004. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T trình bày: Tuyến đường giao thông tiếp giáp thửa đất số 84 là tuyến đường dân sinh tự phát hình thành từ trước năm 1975 có chiều rộng 03m, dùng để phục vụ việc đi lại và vận chuyển nông sản của người dân khu vực ấp A (nay là ấp B), xã B. Năm 2009, thực hiện chủ trương mở rộng, nâng cấp các tuyến đường giao thông trên địa bàn xã, tuyến đường này được mở rộng ra mỗi bên 02m tính từ tim đường hiện hữu, Ủy ban nhân dân xã B vận động người dân hiến đất làm đường và không thực hiện bồi thường. Năm 2017, tiếp tục thực hiện chủ trương mở rộng đường mỗi bên 2,5m, Ủy ban nhân dân xã B tiếp tục vận động người dân hiến đất mở đường, không thực hiện việc bồi thường. Thời điểm mở rộng đường, không có ai thắc mắc hay khiếu nại gì. Đối với thửa đất số 84, tại cạnh hướng N và hướng Bắc có tiếp giáp đường đất.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bồ Thị N là bà Lưu Thị Kim H8 trình bày: Bà Bồ Thị N quản lý, sử dụng thửa đất số 85, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM461086 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/7/2008, diện tích 1.363m². Theo bản vẽ ngày 11/3/2024, phần đất bà N bị ông Bùi Văn B2 lấn chiếm là 173,2m² nên bà nộp đơn yêu cầu độc lập để yêu cầu Tòa án công nhận cho bà được quyền sử dụng đối với phần đất này.

- Tại Biên bản lấy lời ngày ngày 28/11/2017 người làm chứng ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông C là Phó Chủ tịch Hội nông dân xã B và có tiến hành hòa giải tranh chấp giữa bà L với bà H1. Về nguồn gốc đất tranh chấp, ông C có lời khai thống nhất lời khai của ông Ngô Văn T.

- Người làm chứng bà Phan Thị Hồng V và bà Phan Thị Bạch Y thống nhất trình bày: Bà V có mối quan hệ họ hàng với nguyên đơn, bị đơn. Đất tranh chấp có nguồn gốc do ông bà cố để lại cho cụ K và một phần do cụ K nhận chuyển nhượng, cụ K chết để lại cho cụ T1. Đất là di sản của cụ T1 để lại, không phải là tài sản của ông B2.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/DS-ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị L với bị đơn bà Lê Thị H1 về việc yêu cầu chia căn nhà cấp 4 diện tích 91,6m² kết cấu tường xây tô, nền lát gạch bông, mái tôn; 01 căn nhà tạm diện tích 07m², 01 chuồng gà diện tích 04m², 10 cây bưởi; 03 cây mít, 04 cây me, 03 cây mai, 02 cây quý, 20 cây chuối đang thu hoạch.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị L với bị đơn bà Lê Thị H1 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.

    2.1 Xác định diện tích đất 1.246,4m² thửa đất số 84, tờ bản đồ số 16, tại xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Thị T1.

    2.2 Chia di sản thừa kế như sau:

    • Bà Bùi Thị L được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 300m² (trong đó có 100m² đất thổ cư, 200m² đất trồng cây lâu năm), vị trí A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo.
    • Bà Lê Thị H1, bà Bùi Thị Kim H2, Nguyễn Thị Mai H3 và bà Nguyễn Thị H9 và bà Bùi Thị Kim A được quyền quản lý, sử dụng chung diện tích đất 946,4m² (200m² đất thổ cư, 746,4m² đất trồng cây lâu năm), vị trí B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo.

    Bà Lê Thị H1 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời 01 chuồng bò diện tích 15,2m² trên diện tích đất bà Bùi Thị L được quản lý, sử dụng.

    Đối với các tài sản khác trên phần đất của ai được chia thì người đó được tiếp tục quản lý, sử dụng.

  3. Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và chi phí tố tụng của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H3 và bà Bồ Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử là có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Bồ Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Mai H3 kháng cáo nhưng vắng mặt lần thứ hai xem như bà Nguyễn Thị Mai H3 từ bỏ quyền kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mai H3.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chia cho nguyên đơn một kỷ phần thừa kế đối với diện tích 1.246,4m², thuộc thửa đất số 84 và căn nhà cấp 4 diện tích 91,6m², 01 căn nhà tạm diện tích 07m², 01 chuồng gà diện tích 04m², 10 cây bưởi, 03 cây mít, 04 cây me, 03 cây mai, 02 cây quý, 20 cây chuối đang thu hoạch, vì nguyên đơn xác định di sản của cụ T1 (mẹ của nguyên đơn) nhưng hiện nay phần đất này ông Bùi Văn B2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00168 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Bùi Văn B2 vào ngày 05/11/2010. Bị đơn cho rằng thửa đất số 84 là của ông B2, không phải là di sản thừa kế của cụ T1 nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị H1 đồng ý chia cho nguyên đơn 300m² (trong đó đất thổ cư 100m² và đất trồng cây lâu năm 200m²); phần đất còn lại bị đơn đồng ý để bà Bùi Thị Kim A cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H3 cho rằng phần đất này của ông Bùi Văn B2 (ông ngoại của bà Nguyễn Thị Mai H3) nên không đồng ý chia thừa kế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho nguyên đơn 300m² nên bà Nguyễn Thị Mai H3 kháng cáo. Xét yêu cầu kháng cáo của bà H3 thấy rằng:

[2] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn bà L, bị đơn bà H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà A và người làm chứng đều thống nhất thừa nhận thửa đất số 84 có nguồn gốc do cụ Ngô Thị K để lại. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó có căn cứ xác định đất tranh chấp là do cụ Ngô Thị K để lại.

Ngày 22/3/1995, ông Bùi Văn B2 kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 915m², trong đó đất thổ cư 300m², đất khác 615m², thửa đất số 31AT, tờ bản đồ số 01. Đến năm 2010, ông B2 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00168, thửa đất số 84, diện tích 1.188m², trong đó đất thổ cư 300m², đất trồng cây lâu năm 888m². Nguyên đơn cho rằng đất do cụ K cho cụ T1, bị đơn cho rằng đất do cụ K cho ông B2 nhưng không ai cung cấp được giấy tờ chứng minh có việc tặng cho này. Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông B2 vào 22/3/1995 này có nội dung: “Phần đất thổ cư này là của mẹ Nguyễn Thị T1 sử dụng từ 1945 đến 1975 tôi cho con tôi sử dụng”, đơn này có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B, huyện T. Cụ T1 chung sống với cụ B trong căn nhà cấp 4 (căn nhà hiện nay bà Bùi Thị Kim A đang sinh sống) từ trước năm 1975 đến khi chết. Thời điểm ông B2 đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp đổi, cụ T1 sinh sống trên đất. Do đó, có cơ sở xác định thửa đất số 84 này là di sản thừa kế của cụ T1. Cụ T1 chết không để lại di chúc. Theo quy định tại Điều 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thửa đất số 84 sẽ được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế của cụ T1, xét thấy: Các đồng thừa kế của cụ T1 thống nhất chia cho nguyên đơn 300m² (trong đó đất thổ cư 100m², đất trồng cây lâu năm 200m²) nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận chia cho nguyên đơn 300m². Đối với tài sản trên phần đất nguyên đơn được chia gồm 01 chuồng bò diện tích 15,2m² bị đơn tự nguyện tháo dỡ, di dời, đối với các cây trồng trên phần đất nguyên đơn được chia, bị đơn đồng ý để nguyên đơn được sử dụng, không phải thanh toán giá trị.

Đối với phần đất còn lại 946,4m² (200m² đất thổ cư, 746,4m² đất trồng cây lâu năm) là di sản mà bà A và các thừa kế thế vị của ông B2 được hưởng. Bà H1, bà A cũng không yêu cầu phân chia diện tích đất này mà chỉ yêu cầu đứng chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, cần giao phần đất còn lại này cho bị đơn, bà Bùi Thị Kim A và các thừa kế thế vị của ông B2 là bà Bùi Thị Kim H2, con của bà Bùi Thị N2 là Nguyễn Thị Mai H3 và Nguyễn Thị H9 cùng quản lý, sử dụng. Đối với các tài sản trên phần đất bị đơn, bà A quản lý sử dụng, các đương sự không tranh chấp nên nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quản lý, sử dụng.

Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị Mai H3 yêu cầu được chia thừa kế di sản của ông B2, xét thấy đây là di sản của cụ T1, không phải của ông B2. Bà H3, bà H9 (con bà N2) là thừa kế thế vị của ông B2 nên cùng đứng sở hữu chung kỷ phần trong diện tích đất bị đơn, bà A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại cấp sơ thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia căn nhà cấp 4 diện tích 91,6m² kết cấu tường xây tô, nền lát gạch bông, mái tôn; 01 căn nhà tạm diện tích 07m², 01 chuồng gà diện tích 04m², 10 cây bưởi, 03 cây mít, 04 cây me, 03 cây mai, 02 cây quý, 20 cây chuối đang thu hoạch nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị L với bị đơn bà Lê Thị H1.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Bồ Thị N về việc yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 173,2m² theo kết quả đo đạc ngày 12/3/2024. Xét thấy, bà N tham gia tố tụng trong vụ án vì theo kết quả xác minh ngày 09/10/2020 của Tòa án thì trong diện tích đất tranh chấp 1.288m² có 82,9m² thuộc thửa đất số 85 và việc cung cấp kết quả xác minh này dựa trên cơ sở lồng ghép thửa đất số 84, 85 theo hồ sơ cấp giấy nhận quyền sử dụng đất và ranh theo hiện trạng sử dụng không đảm bảo chính xác do bản đồ địa chính được thành lập bằng phương pháp bản đồ không ảnh, tỷ lệ sai số lớn (bút lục 489). Chứng cứ do bà Lưu Thị Kim H8 (đại diện bà N) giao nộp cho Tòa án và kết quả xác minh ngày 18/11/2019 của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã B (bút lục số 463) được biết ngày 24/9/2019 bà N nộp đơn tranh chấp với bị đơn bà H1 tại xã B liên quan đến ranh giới thửa đất số 84, 85 (sau thời điểm bà N xây dựng lại ranh đất). Đến ngày 18/11/2020, Tòa án nhận được đơn khởi kiện của bà N đối với bị đơn bà H1, Tòa án đã ban hành Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nhưng bà N không thực hiện nên Tòa án đã trả lại đơn cho bà N, được bà H8 thừa nhận tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2024. Kết quả đo đạc ngày 12/3/2024 diện tích thửa 84 là 1.246,4m² (tăng hơn so với diện tích được cấp) nhưng không có phần đất nào thuộc thửa đất số 85 của bà N. Tại Văn bản số 1106/PTNMT-ĐĐ ngày 11/5/2024 cho biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 84 là không đo đạc thực tế. Như đã nhận định thời điểm đo đạc ngày 18/10/2017, bà Bồ Thị N có mặt và thống nhất ký xác định ranh giới thửa đất số 84, 85. Sau đó, bà N đã xác lập lại ranh giới như hiện nay. Bà N ủy quyền cho bà H8 tham gia tố tụng trong vụ án, nộp đơn tranh chấp và sau đó không thực hiện quyền, nghĩa vụ mà gây khó khăn cho Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án ban hành thông báo không thụ lý đơn yêu cầu độc lập trong vụ án này, bà H8 đã khiếu nại và được Tòa án giải quyết bằng Quyết định giải quyết khiếu nại số 08/2024/QĐ-GQKN ngày 03/5/2024. Trường hợp bà N có tranh chấp thì được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác. Do đó kháng cáo của bà N không có căn cứ chấp nhận.

Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử có căn cứ nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H3 và bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm và yêu cầu đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mai H3.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308 và Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Bồ Thị N.

  2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mai H3.

  3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  4. Án phí dân sự phúc thẩm:

    • Bà Nguyễn Thị Mai H3 phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0000123 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
    • Bà Bồ Thị N không phải nộp do là người cao tuổi nên được miễn. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hoàn trả cho bà Bồ Thị N số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000073 ngày 25/6/2024.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND TP. Tân Uyên;
  • - CCTHADS TP. Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Tòa Dân sự, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Bích Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 212/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 212/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger