Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 211/2023/HS-ST

Ngày 30-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 198/2023/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 183/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Văn M, sinh năm 1991 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp PT, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1964; bị cáo có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 28/7/2023, bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Thôn ĐT, xã ĐN, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở: Cửa hàng xe máy MCP, khu phố PH, phường HL, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn M là đối tượng sống lang thang tại khu vực phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/7/2023, M đang đi bộ trên đường DT741 thuộc khu phố PH, phường HL, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng nâu, biển số 73K1-241.10 của ông Vũ Văn T đang dựng trước Cửa hàng xe máy MCP, chìa khóa xe cắm sẵn trên ổ khóa, không người trông giữ. Lúc này, M nảy sinh ý định lấy trộm xe đem bán lấy tiền tiêu xài nên lén lút đi lại ngồi trên xe bật chìa khóa xe khởi động máy xe để chạy đi. Tuy nhiên, khi M vặn ga xe thì xe không chạy được do vướng khóa phanh trước. Ngay lúc này, ông T đang ở trong nhà phát hiện nên đã truy hô. M thấy vậy nên bỏ chạy nhưng được khoảng 50 mét thì bị ông T cùng người dân bắt giữ giao Công an phường Hòa Lợi. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng nâu, không biển số, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 73K1-241.10 và 01 biển số 73K1-241.10.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 102 ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng nâu, biển số 73K1-241.10 trị giá 15.875.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng nâu, biển số 73K1-241.10 do ông Đoàn Văn Q (sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Thôn TT, xã QH, huyện Ba Đồn, tỉnh Quảng Ninh) đứng tên đăng ký. Ngày 23/02/2023, ông Q đã bán lại xe này cho ông Vũ Văn T. Ngày 03/8/2023, Cơ quan điều tra giao trả xe cho ông T.

Tại bản Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố bị cáo Võ Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 12 tháng 10 năm 2023.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát theo Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Võ Văn M

3

về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Văn M từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Văn M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023, tại khu vực trước Cửa hàng xe máy MCP thuộc khu phố PH, phường HL, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Võ Văn M có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 73K1-241.10 trị giá 15.875.000 đồng của ông Vũ Văn T. Tuy nhiên, khi bị cáo đang thực hiện hành phạm tội, chưa chiếm đoạt được tài sản thì bị phát hiện, truy đuổi bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

4

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tính chất: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại đã lén lút chiếm đoạt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tài sản bị chiếm đoạt được thu hồi giao trả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng nâu, biển số 73K1-241.10. Xe này do ông Đoàn Văn Q đứng tên đăng ký. Tuy nhiên, ngày 23/02/2023, ông Q đã bán lại xe này cho ông Vũ Văn T. Nên ngày 03/8/2023, Cơ quan điều tra giao trả xe cho ông T là có căn cứ. Bị hại không yêu cầu giải quyết gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

5

Xử phạt bị cáo Võ Văn M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

  1. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thị xã Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
  • - Công an thị xã Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 211/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Võ Văn M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023. 2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger