Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số:211/2024/HSST

Ngày: 30/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu

Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thái – Giáo viên nghỉ hưu

Ông Hoàng Văn Long – Cán bộ hưu trí

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ

Toà án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 09 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2024/TLST-HS ngày 13/09/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HS ngày 17/09/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Thanh M, sinh năm 2004, HKTT và trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Hoàng Thanh V (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị H

Theo danh chỉ bản số 424 ngày 17/06/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo đầu thú ngày 08/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H

(Có mặt tại phiên toà)

  1. Họ và tên: Hoàng Ngọc G, sinh ngày 10/06/2006, HKTT và trú tại: Khu M, xã H, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Hoàng Ngọc B; Họ và tên mẹ: Phan Thị Minh Đ.

Theo danh chỉ bản số 423 ngày 17/06/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo đầu thú ngày 08/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H

(Có mặt tại phiên toà)

  1. Họ và tên: Nguyễn Quốc A, sinh năm 2005, HKTT: Tổ dân phố A phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T; Họ và tên mẹ: Phạm Thị L

Theo danh chỉ bản số 422 ngày 17/06/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo đầu thú ngày 08/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H

(Có mặt tại phiên toà)

  1. Họ và tên: Bùi Trung K, sinh năm 2004, HKTT và trú tại: Thôn X, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Bùi Mạnh C; Họ và tên mẹ: Phạm Thúy H1

Theo danh chỉ bản số 419 ngày 17/06/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo đầu thú ngày 08/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H

(Có mặt tại phiên toà)

  1. Họ và tên: Nguyễn Minh P, sinh năm 2004, HKTT: Tổ 29 phường T, quận H, TP .; Chỗ ở: P, HH3A L, phường H, quận H, TP .; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn S; Họ và tên mẹ: Nguyễn Kim Al

Theo danh chỉ bản số 421 ngày 17/06/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo đầu thú ngày 08/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H

(Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Cháu Triệu Trung H2, sinh ngày 28/07/2008

(Cháu H2 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người giám hộ cho bị hại: Ông Triệu Văn T1, sinh năm 1983

Trú tại: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

(Ông T1 có mặt tại phiên tòa)

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T3

(Bà L1 có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P làm việc cho Công ty C1 do anh Nguyễn Văn L2 (sinh năm 1988, HKTT: Nga P, N, Thanh Hóa) làm giám đốc. Công ty có 02 cơ sở làm việc là: số B Đ, T, H, Hà Nội và xóm G, N, L, T, Hà Nội. Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P làm việc tại cơ sở xóm G, N, L, T, Hà Nội, công việc hàng ngày là viết và đăng bài trên mạng xã hội facebook tìm kiếm những người có nhu cầu xin việc làm để hướng dẫn họ đến phỏng vấn xin việc ở cơ sở số B Đ, T, H, Hà Nội.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Triệu Trung H2 sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên: “Trieu Trung H3” nhắn tin vào tài khoản facebook “Mẫn Nhy” của Hoàng Thanh M để liên hệ tìm việc làm cho H2 và bạn của H2 là Phạm Văn H4 Quá trình trao đổi, H2 nói với M là Hiếu sinh năm 2005 còn H4 sinh năm 2001 nên M đã đồng ý và bảo H2 đến phỏng vấn tại cơ sở Đ1. H2 đồng ý và nhờ M đặt cho H2 và H4 xe ghép từ Bắc Ninh đến cơ sở Đ1. Khi đến nơi, H2 nói với M là không có tiền để trả tiền xe và nhờ M trả hộ, sau khi H2 đi làm có tiền sẽ trả lại cho M. M đồng ý rồi gọi điện cho anh L2 nhờ anh L2 trả 350.000 đồng tiền xe cho H2 và H4, số tiền này sẽ được trừ vào lương của M. Khoảng 30 phút sau, anh L2 gọi điện thông báo với M về việc H2 và H4 đều sinh năm 2008 và muốn xin làm chung ở một nhà hàng nên anh L2 không đồng ý sắp xếp công việc cho H2 và H5 nữa. H2 và H4 cũng nói không muốn đi làm nữa. Lúc này, M nhờ anh L2 đòi lại số tiền 350.000 đồng cho M nhưng H2 nói với anh L2 là không có tiền trả và xin sẽ ở lại văn phòng Đ2 để tìm cách trả số tiền này cho M.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, M nhắn tin cho H2 hỏi “mày về chưa em” với mục đích hỏi xem H2 đã có tiền để trả lại cho M chưa nhưng H2 nhắn tin lại trách móc M về việc không giới thiệu được việc làm cho H2. Vì vậy, hai bên xảy ra tranh cãi với nhau. Sau khi nhắn tin với H2, M đã kể lại mâu thuẫn giữa M và H2 với P, K, Quốc A, G: “có thằng này chửi anh, anh đặt xe cho nó xuống rồi cho nó một trận”. Nghe xong, P, K, Quốc A và G đều đồng ý cùng với M đánh H2. Sau đó, M đặt xe cho H2 và H4 từ Đại Từ xuống cơ sở xóm G, N, L, T, Hà Nội. M nói với H2 là xuống để nghỉ ngơi, mai tính chuyện tìm việc làm tiếp thì H2 và H4 đồng ý lên xe taxi do M đặt. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày thì H2 và H4 đến nơi, do ngõ nhỏ, xe taxi không vào được nên H2 và H4 đã xuống xe ở đầu ngõ còn M và P đi bộ ra đầu ngõ để đón H2 và H4. Sau đó, H2 và H4 tự nguyện đi theo M và P. Sau khi H2 và H4 vào trong sân, M đã khóa cổng lại bằng cách bấm khóa vì theo quy định 23 giờ hàng ngày đều phải khóa cổng đề phòng trộm cắp. Sau đó, H2 và H4 đi vào tầng 1, lúc này có M, G, P, Quốc A, K cũng đang ở tầng 1. H2 hỏi mượn máy tính để chơi điện tử thì M hỏi H2 và H4 “thằng nào là thằng H2?”. Nghe vậy, H2 trả lời là “em”. Lúc này, H2 đang đứng quay lưng lại với G, G dùng tay phải cầm chiếc điếu cày trúc dài khoảng 65cm đường kính khoảng 05cm để ở góc tầng 1 vụt 01 phát từ ngoài vào trong từ phải qua trái từ phía sau H2 và trúng vào vùng mặt bên phải của H2 khiến H2 ôm mặt ngồi xuống đất. Thấy vậy, G đã đỡ đầu H2 xem H2 có bị sao không. Trong lúc đó, H4 bỏ chạy ra sân nhưng bị P, K, Quốc A đuổi theo dùng tay chân không đánh và đạp ngã vào tường. Sau đó, M, G, P, K, Quốc A quay vào trong nhà, dùng chân tay không tiếp tục đánh vào người, đầu và mặt của H2. M dùng tay đấm vào người của H2, G dùng tay không tát và đấm H2, Quốc A dùng đầu gối lên gối vào đầu H2, K dùng chân đá vào lưng H2, P, dùng tay đấm vào lưng và tay H2. Lúc này, nghe thấy ầm ĩ nên anh L2 đi từ tầng 2 xuống tầng 1 để xem có chuyện gì xảy ra. Khi xuống tầng 1, thấy cả nhóm đang đánh H2 thì anh L2 đã cáo ngăn nên cả nhóm đã dừng lại. Sau đó, anh L2 bảo cả nhóm mở cửa để H2 và H4 về. Lúc này, K đã lấy chìa khóa mở cổng còn G đưa H2 và H4 ra ngoài.

Ngày 08/06/2024, Triệu Trung H2 và Phạm Văn H4 đến Công an xã L, huyện T trình báo sự việc như trên. Cùng ngày, Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P đã đến Công an xã L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Cơ quan Công an đã tiến hành tạm giữ của Hoàng Ngọc G: 01 điếu cày hình trụ dài 65cm, đường kính 05 cm.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Triệu Trung H2. Kết luận giám định số 1122/KLTTCT – TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm T3 kết luận: “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Triệu Trung H2 tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên”.

Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với anh Phạm Văn H4 nhưng anh H4 từ chối giám định thương tích do thương tích không đáng kể và có đơn xin từ chối giám định thương tích và rút đơn trình báo.

Về vật chứng: đối với 01 điếu cày hình trụ dài 65cm, đường kính 05 cm tạm giữ của Hoàng Ngọc G, quá trình điều tra xác định là tài sản của G có liên quan đến hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc A đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Triệu Trung H2 số tiền 36.000.000 đồng, Triệu Trung H2 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Quốc A. Gia đình bị cáo Nguyễn Minh P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Triệu Trung H2 số tiền 60.000.000 đồng, Triệu Trung H2 đã có đơn xin rút đơn trình báo và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Minh P. Ngoài ra, gia đình Triệu Trung H2 yêu cầu Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G và Bùi Trung K bồi thường mỗi người 60.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 195/CT-VKS-TT ngày 12/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố các bị cáo Hoàng Thanh M, Hoàn Ngọc G1, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K và Nguyễn Minh P về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, không kêu oan, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
  • - Người giám hộ cho bị hại trình bày: Gia đình tôi đã được gia đình bị cáo Quốc A và P bồi thường nên không có yêu gì thêm về dân sự. Gia đình bị cáo M đã bồi thường cho gia đình tôi tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M, Quốc A và P
  • Đến nay gia đình tôi yêu cầu các bị cáo Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G và Bùi Trung K phải bồi thường cho gia đình tôi số tiền 161.040.000 đồng.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà Nguyễn Thị L1 trình bày luận cứ với nội dung: Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì viện dẫn truy tố các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
  • Sau khi xảy ra vụ án gia đình bị cáo Quốc A đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Triệu Trung H2 số tiền 36.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Nguyễn Minh P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Triệu Trung H2 số tiền 60.000.000 đồng và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Quốc A và P. Trước đó gia đình bị cáo M đã bồi thường 5.000.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay gia đình bị cáo M bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường của gia đình bị cáo Quốc A và bị cáo P. Buộc bị cáo M, G và K phải liên đới bồi thường số tiền 161.040.000 đồng cho cháu H2.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện T duy trì công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng nêu trên. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đề nghị như sau:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, (bị cáo G được áp dụng thêm điều 91 và khoản 1 Điều 101; bị cáo M, Quốc A và P được áp thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; bị cáo Quốc A và P được áp dụng thêm Điều 65), Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.

Xử phạt:

  • Bị cáo Hoàng Thanh M mức án từ 28 – 30 tháng tù
  • Bị cáo Hoàng Ngọc G mức án từ 20 – 22 tháng tù
  • Bị cáo Nguyễn Quốc A mức án từ 24 – 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 – 52 tháng
  • Bị cáo Bùi Trung K mức án từ 24 – 26 tháng tù
  • Bị cáo Nguyễn Minh P mức án từ 24 – 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 – 52 tháng

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thương tích và tổn thất về tinh thần của ông Triệu Văn T1. Buộc các bị cáo phải liên đới chịu trách nhiệm dân sự bồi thường cho cháu H2.

Xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày hình trụ dài 65cm, đường kính 05 cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, bị hại, người giám hộ cho bị hại, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản giám định pháp y, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, biên bản nhận dạng, biên bản thực nghiệm hiện trường cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì

Hội đồng có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ việc giới thiệu việc làm giữa Hoàng Thanh M và Triệu Trung H2 nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/06/2024, tại xóm G, thôn N, xã L, huyện T, Hà Nội, Hoàng Thanh M đã thống nhất bàn bạc với Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P đánh cháu Triệu Trung H2. Bị cáo G đã dùng điếu cày, còn bị cáo M, Quốc A, K và P dùng chân tay không đánh gây thương tích cho cháu Triệu Trung H2, sinh ngày 28/07/2008. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu H2 tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm).

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo với tội danh “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của trẻ em được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo nhận thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn. Bị cáo Minh đóng vai trò chủ mưu, khởi sướng nên có mức hình phạt cao nhất, bị cáo Gia đóng vai trò là người thực hành tích cực nên mức án thấp hơn bị cáo M, các bị cáo Quốc A, K, P đóng vai trò đồng phạm giúp sức nên có vai trò và mức án ngang nhau do đó cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đầu thú do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo M, Quốc A và P đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị hại có ý kiến đề nghị xem xét gảm nhẹ hình phạt do đó được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Quốc A có ông ngoại là ông Phạm Xuân H6 là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì nên được áp dụng thêm tính tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo G khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên được áp dụng tình tiết quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo M là kẻ chủ mưu, bị cáo G là kẻ thực hành tích cực, bị cáo K chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại do đó cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Quốc A và P có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo phạm tội do bồng bột của tuổi trẻ, chỉ dùng tay, chân đánh bị hại. Bị cáo Quốc A và P có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, gia đình cam kết sẽ giám sát, quản lý, giáo dục nên không nhất thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo Quốc A và P được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, tạo cơ hội cho các bị cáo có cơ hội được rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022 thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên cũng cần xác định bị hại là cháu Triệu Trung H2 cũng có một phần lỗi xuất phát từ việc không trung thực, nói sai năm sinh, có lời nói không đúng đắn, không trả tiền bị cáo M thuê xe taxi cho cháu H2 dẫn đến việc bị cáo M bức xúc và đã có hành vi vi phạm pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Triệu Văn T1 yêu cầu các bị cáo M, G, K phải bồi thường cho gia đình ông số tiền 161.040.000 đồng, gồm:

  • - Chi phí điều trị, thuốc men, khám chữa bệnh, giám định: 33.000.000 đồng
  • - Tiền chi phí đi lại là 10.000.000 đồng
  • - Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 2.040.000 đồng
  • - Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc: 24.000.000 đồng
  • - Tiền bồi thường tổn thất về tính thần: 90.000.000 đồng

Xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe của người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự quy định: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. Theo tài liệu do ông T1 nộp tại Cơ quan điều tra gồm: Bảng kê chi phí điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp ngày 10/06/2024 là 2.725.038 đồng, bảng kê chí phí điều trị nội trú tại Bệnh viện H7 ngày 17/06/2024 là 6.474.983 đồng, hóa đơn bán hàng tại Bệnh viện H7 ngày 17/06/2024 là 260.000 đồng, T2 chi phí đi lại ngày 17/06/2024 là 1.540.000 đồng, T2 mua thuốc điều trị tại Nhà thuốc Long Châu ngày 17/06/2024 là 895.000 đồng, mua nẹp cổ tại Bệnh viện H7 ngày 10/06/2024 là 136.500 đồng, Đơn thuốc của Trung tâm y tế huyện L ngày 18/06/2024 là 1.100.000 đồng, T2 khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế huyện L ngày 24/06/2024 là 952.965 đồng, B1 kê chi phí tại Bệnh viện Đ3 là 3.409.000 đồng. Tổng cộng là 17.493.486 đồng.

Ngoài ra các bị cáo còn phải bồi thường thiệt hại phục hồi sức khỏe trong thời gian cháu H2 điều trị, cụ thể: 24 ngày x 180.000 đồng/ngày = 4.320.000 đồng.

Đây là những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe nên được chấp nhận.

Đối với chi phí giám định: Do ông T1 không xuất trình các tài liệu, chứng cứ nên không có cơ sở chấp nhận.

Đối với chi phí đi lại: Do ông T1 đã nộp tài liệu liên quan đến chi phí đi lại ngày 17/06/2024 là 1.540.000 đồng, do đó yêu cầu chi phí đi lại 10.000.000 đồng không có cơ sở chấp nhận.

Đối với khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, theo quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp về tinh thần do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khoẻ bị xâm hại không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. (Mức lương cơ sở theo Nghị định số 73/2024/NĐ- CP ngày 30/06/2024 của Chính phủ là 2.340.000 đồng). Do đó chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường tổn thất về tinh thần của người đại diện hợp pháp của cháu H2, buộc các bị cáo liên đới phải bồi thường cho cháu H2 30 lần mức lương cơ sở, cụ thể là 30 x 2.340.000 đồng /tháng = 70.200.000 đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường khoản tiền thu nhập thực tế nghỉ việc chăm sóc 24 ngày của ông T1 là 24.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông T1 là lao động tự do nên mức lương lao động phổ thông là 7.409.249 đồng do đó chỉ chấp nhận số tiền như sau: (7.409.249 đồng x 24 ngày) : 30 = 5.927.399 đồng

Tổng cộng là 97.940.885 đồng. Số tiền này 05 bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho cháu H2.

Tuy nhiên xét về lỗi, xuất phát từ việc cháu H2 đã không trung thực trong việc khai năm sinh, có lời nói không đúng đắn và không trả tiền cho bị cáo M thuê xe taxi dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cháu H2 phải chịu một phần lỗi do đó chỉ chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người đại diện hợp pháp cho cháu H2. Buộc 05 bị cáo liên đới phải bồi thường 70% tổng thiệt hại, cụ thể là: 97.940.885 đồng x 70% = 68.558.619 đồng, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho cháu H2 số tiền là 13.711.723 đồng.

Xác nhận bị cáo M, Quốc A và P đã bồi thường cho gia đình bị hại do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điếu cày hình trụ dài 65cm, đường kính 05 cm là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người giám hộ và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, cho bị cáo Quốc A và P được hưởng án treo, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Hoàng Thanh M (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2024

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, (đối với bị cáo G áp dụng thêm điều 91 và khoản 1 Điều 101), Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Hoàng Ngọc G (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2024

Xử phạt: Bùi Trung Kiên 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2024

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022

Xử phạt:

Nguyễn Quốc A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thừ thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do cho bị cáo Quốc A ngay sau khi tuyên án nếu không bị giam giữ về hành vi phạm tội khác.

Giao bị cáo Quốc A về UBND xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nguyễn Minh P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thừ thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do cho bị cáo P ngay sau khi tuyên án nếu không bị giam giữ về hành vi phạm tội khác.

Giao bị cáo P về UBND phường H, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
  • - Áp dụng Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

* Về trách nhiệm dân sự: Buộc Hoàng Ngọc G, Bùi Trung K mỗi bị cáo phải bồi thường cho cháu Triệu Trung H2 số tiền 13.711.723 đồng (Mười ba triệu bẩy trăm mười một nghìn bẩy trăm hai mươi ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của khoản nợ chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 điếu cày hình trụ dài 65cm, đường kính 05 cm đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì ngày 19/09/2024.

* Về án phí: Các bị cáo Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung K, Nguyễn Minh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Ngọc G và Bùi Trung K mỗi bị cáo phải chịu 685.586 đồng (Sáu trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm tám mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người giám hộ cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại là cháu Triệu Trung H2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HN;
  • - VKS, CA, Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Các bị cáo, bị hại, NGH, NBC
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Tự Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 211/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh M, Hoàng Ngọc G, Nguyễn Quốc A, Bùi Trung Ki, Nguyễn Minh P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger