|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2024/HS-ST
Ngày 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thanh Nhàn;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 và 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Hoàng B, sinh ngày 01/7/2003 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T và bà Bùi Tuyết N; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 04/3/0224 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, C đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Lê K, sinh năm 1986; nơi thường trú: số D đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: C đường N, khu phố C, phường M, thành phô B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Tô Thị Ánh N1, sinh năm 1987 – Chủ hộ kinh doanh V; địa chỉ trụ sở kinh doanh: số A, đường D, khu phố D, phường M, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Võ Hoàng T1, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
- Bà Đào Thị Ngọc B1, sinh năm 1984, nơi thường trú: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên lạc: số F Đ, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1987, nơi cư trú: Số A, đường N, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
- Ông Trần Hữu N2, sinh năm 2003; nơi thường trú: khóm A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ liên lạc: tổ A, ấp E, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Bành Vĩnh Q, sinh năm 1988, vắng mặt;
- Ông Sơn Ngọc D, sinh năm 1977, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Hoàng B là nhân viên của cửa hàng kinh doanh V thuộc khu phố D, phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương do bà Tô Thị Ánh N1 (sinh năm 1987, nơi thường trú: 453/96/12/48 đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) làm chủ. Bà N1 giao cửa hàng cho chồng là ông Nguyễn Lê K (sinh năm 1986) quản lý. Công việc của B là chuyển tiền, rút tiền, mua bán sim, thu hộ tiền cho khách hàng khi có khách hàng yêu cầu.
Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 23/02/2024, Võ Hoàng B đến cửa hàng V để làm việc. B được ông Nguyễn Lê K giao số tiền mặt 60.868.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 bên trong có ứng dụng ngân hàng B2, số tài khoản 65010000292285 do ông Nguyễn Lê K đứng tên, có số tiền 5.757.000 đồng trong tài khoản và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53-5G bên trong có ứng dụng Viettel Money, số tài khoản 0388739899 do bà Nguyễn Thị Mỹ L (sinh năm 1987, nơi thường trú: số A, xã A, huyện B, tỉnh Đăk Lăk) đứng tên có số tiền 12.000.000 đồng trong tài khoản (Nguyễn Thị Mỹ L là nhân viên cũ đã nghỉ việc làm tại cửa hàng của ông K, cho ông K mượn thông tin cá nhân của bà L để mở tài khoản hoạt động cho cửa hàng). Ông K cho B mật khẩu điện thoại và mật khẩu chuyển tiền của 02 tài khoản để B thực hiện giao dịch với khách hàng. Sau đó, trong ngày 23/02/2024 ông K đã chuyển số tiền 210.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng B2, số F (10 lần, mỗi lần 20.000.000 đồng và một lần 10.000.000 đồng), để B thực hiện giao dịch.
Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Võ Hoàng B sử dụng điện thoại hiệu Redmi 12 của B để vào ứng dụng Facebook thì thấy trên mạng có trang đánh bạc trực tiếp và B đã tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc “Tài - Xỉu” thắng thua bằng tiền trên trang mạng Mmlive. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, do thua bạc nên B đã chuyển tổng số tiền 125.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B2 đứng tên NGUYEN LE K số 6500292285 (chuyển 115.000.000 đồng) và tài khoản V2 số 0388739899 đứng tên Nguyễn Thị Mỹ L (chuyển 10.000.000 đồng) vào các số tài khoản 2277447366 ngân hàng TMCP K1 (T3) do người tên TRAN HUU N2 là chủ tài khoản và số tài khoản 36793437 của ngân hàng TMCP Á (Á) do người tên DAO THỊ NGỌC B1 là chủ tài khoản để đánh bạc.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, B không có khả năng trả lại số tiền thua bạc cho ông K nên nảy sinh ý định dựng hiện trường giả về việc bị cướp tiền để không phải trả lại tiền cho ông K. B làm báo cáo tổng kết tiền doanh thu trong ngày của cửa hàng V với tổng số tiền 148.000.000 đồng là tiền mặt rồi chụp hình gửi cho ông K biết và nói sẽ đem tiền đến nhà của ông K để giao. Sau đó, B đóng cửa hàng rồi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 61B2-016.xx (là xe của ông K cho B mượn sử dụng) đi đến khu vườn tràm cạnh đường N thuộc khu phố D, phường M, thị xã B, dựng hiện trường giả bị cướp tài sản, rồi gọi điện thoại cho ông K nói B bị cướp tiền. Sau khi nghe điện thoại của B, ông K đến Công an phường M trình báo sự việc. Công an phường M cùng với ông K đến khu vườn tràm đường NA7 thì thấy B đang ngồi không bị thương tích gì, kiểm tra số tiền bên trong cốp xe thì B còn giữ 22.940.000 đồng. Số tiền 125.500.000 đồng B nói đã bị cướp mất, nhưng không biết là ai. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) B giải quyết vụ việc theo thẩm quyền. Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 61B2 - 016.xx, SK:03220JY109509; SM: E3X9E534763.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu trắng.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu samsung màu bạc có mã IMEI: 351084183108341212.
- - Số tiền 22.940.000 (hai mươi hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn) đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu đen của Võ Hoàng B.
Tại Cơ quan điều tra thành phố B, lực lượng Công an tiến hành đấu tranh thì Võ Hoàng B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của B phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Qua tra cứu và xác minh các số tài khoản mà Võ Hoàng B chuyển khoản tiền của ông Nguyễn Lê K vào để sử dụng đánh bạc như sau:
- - Số tài khoản 2277447366 của ngân hàng TMCP K1 (T3) do Trần Hữu N2 (sinh năm 2003, nơi thường trú: Khóm A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, nơi ở hiện tại: Đường C, xã Đ, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký. N2 khai: Khoảng tháng 12/2023, N2 có mở tài khoản ATM tại ngân hàng T3 chi nhánh G bến xe Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 3 ngày sau, trên đường N về quê thì bị mất túi xách (bên trong có 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu samsung, giấy ghi số tài khoản và mật khẩu của thẻ ATM) nhưng N2 không đi trình báo.
- - Số tài khoản 36793437 của ngân hàng TMCP Á do bà Đào Thị Ngọc B1 (sinh năm 1984, nơi thường trú: TDT G, phường Đ, quận N, TP .. Hà Nội) đứng tên đăng ký. Bà B1 khai: Đầu năm 2021, bà B1 cần tiền mở tiệm tóc nên đã lên trên mạng xã hội để vay 20.000.000 đồng, thì được đối tượng không rõ lai lịch cung cấp cho bà B1 đường link để đăng nhập và yêu cầu cung cấp căn cước công dân của bà B1, nhưng sau đó đối tượng này không giải ngân cho bà B1.
Ngày 28/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng đối với hành vi báo thông tin giả, không đúng sự thật đến các Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Võ Hoàng B.
Ngày 09/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra B đã xử lý vật chứng, giao trả: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 61B2 - 016.09, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc và số tiền 22.940.000 đồng cho ông Nguyễn Lê K.
Cáo trạng số 176/CT-VKSBC ngày 02/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Hoàng B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng; đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Hoàng B mức án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Võ Hoàng B đã bồi thường cho ông Nguyễn Lê K số tiền 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Ông K không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Võ Hoàng B nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tuyên: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu đen của Võ Hoàng B là công cụ phạm tội.
- Bị cáo Võ Hoàng B tranh luận: bị cáo biết lỗi, bị cáo chỉ xin có cơ hội sửa sai, hiện tại bị cáo vẫn làm việc tại cửa hàng V của ông K, bà N1 để có tiền phụ ba bị cáo trả nợ mà ba bị cáo đã mượn để bồi thường cho bị cáo, bị cáo rất mong Hội đồng xét xử xem xét.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án treo, xin có cơ hội sửa sai, đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình chuẩn bị xét xử, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hoàng B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, các biên bản hỏi cung bị can, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Võ Hoàng B làm việc tại cửa hàng V, do tin tưởng nên ông K giao tài sản là tiền mặt và 02 điện thoại có ứng dụng tài khoản ngân hàng gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 bên trong có ứng dụng ngân hàng B2, số tài khoản 65010000292285 do ông Nguyễn Lê K đứng tên; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53-5G bên trong có ứng dụng Viettel Money, số tài khoản 0388739899 do bà Nguyễn Thị Mỹ L đứng tên, ông K cho B mật khẩu điện thoại và mật khẩu chuyển tiền của 02 tài khoản để B thực hiện giao dịch với khách hàng. Trong ngày 23/02/2024, ông K đã chuyển số tiền 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng vào tài khoản ngân hàng B2, số F (10 lần, mỗi lần 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và một lần 10.000.000 (mười triệu) đồng, để B thực hiện giao dịch. B đã sử dụng số tiền được giao đánh bạc qua mạng thua hết số tiền 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Do không có khả năng trả lại tiền cho ông K, B đã dùng thủ đoạn gian dối, dựng hiện trường giả là bị cướp nhằm chiếm đoạt số tiền 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng của ông K.Hành vi của Võ Hoàng B lợi dụng lòng tin của bị hại Nguyễn Lê K, sau khi nhận được tài sản đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của ông K số tiền 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi bị cáo thực hiện đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Võ Hoàng B thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại nơi bị cáo gây án. Bị cáo còn trẻ, có sức khỏe, ý thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm nhằm có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Hoàng B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại bị hại. Bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho gia đình, xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Võ Hoàng B là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 125.000.000 (một trăm hai mươi lăm triệu) đồng cho bị hại, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu đen thu giữ của Võ Hoàng B là phương tiện thực hiện tội phạm nên sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;.
Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Võ Hoàng B 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo Võ Hoàng B về Ủy ban nhân dân phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Võ Hoàng B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 12 màu đen (Model 23053RN02A, không kiểm tra được số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).
- Án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Hoàng B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Sang |
Bản án số 211/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 211/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
