|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 211/2023/HS-ST Ngày: 29-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn
Ông Nguyễn Quang Kim
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2023/HSST ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 199/2023/QĐXXST–HS ngày 14/11/2023 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Đoàn Cảnh C, sinh năm 1973; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Cảnh T và bà Trần Thị T1; Vợ Trần Thị L (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Triệu Quốc C1, sinh năm 1988; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Cao Lan; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Văn H và bà Trần Thị P; Vợ: Nguyễn Thu H1 và 02 con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án số 154/2013/HSST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2015, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/8/2013.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Đức M – sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
-
Anh Đào Văn H2 – sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Người chứng kiến:
-
Ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1968 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 55 phút ngày 09/6/2023, tại nhà của Đoàn Cảnh C- sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1- sinh năm 1988, trú tại xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức M- sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Đào Văn H2- sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trên mặt bàn nhựa màu đỏ tại nhà của Đoàn Cảnh C 01 mảnh giấy bạc một mặt bị hơ lửa của Đào Văn H2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”; 01 mảnh giấy bạc một mặt bị hơ lửa của Nguyễn Đức M được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu “QT2”; và 01 bật lửa ga màu đỏ.
Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đoàn Cảnh C đang mặc 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là: NE19659673 và GV18798201; Thu giữ của Triệu Quốc C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng có số Imel 1: 863898034888779, Imel 2: 863898034888761.
Cùng ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của Đoàn Cảnh C tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét thu giữ thu giữ tại nền nhà của Đoàn Cảnh C 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng 04 gói giấy bạc mặt ngoài của mỗi gói giấy màu vàng, mặt bên trong màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều đựng chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy loại Heroine); 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong đựng 08 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy loại Heroine); Thu giữ trên mặt tủ lạnh tại nhà của Đoàn Cảnh C 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, 01 dao lam, 03 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng mặt trong màu trắng. Tất cả số vật chứng trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”. Ngoài ra còn thu giữ của C số tiền 7.600.000 đồng.
Ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Đức M, Đào Văn H2, Triệu Quốc C1 và Đoàn Cảnh C. Kết quả M, H2, C1 và C đều dương tính với chất ma túy loại Heroine.
Cùng ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số tang vật được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu là “QT1”, “QT2” và “KX".
Tại bản kết luận giám định số 1106/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
- - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma túy trên 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, trên một mặt có vết màu đen.
- - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma túy trên 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, trên một mặt có vết màu đen.
- - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định:
- + Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,118 gam, loại Heroine (H).
- + Chất cục bột màu trắng đựng trong 08 (tám) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,348 gam, loại Heroine (H).
- + Không tìm thấy chất ma túy trên 03 (ba) mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (một) dao lam.
- + Không tìm thấy chất ma túy trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ.
Ngày 11/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Đức M và Đào Văn H2 nhận dạng đối với Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1. Kết quả nhận dạng Nguyễn Đức M và Đào Văn H2 đều nhận ra C1 là người trực tiếp nhận tiền mua ma túy của M và H2. Sau đó, C1 đưa tiền mua ma túy cho C rồi nhận lại ma túy từ C để bán cho H2 và M.
Ngày 13/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Đức M và Đào Văn H2 thực nghiệm lại hành vi mua ma túy của Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1 vào ngày 09/6/2023. Kết quả thực nghiệm Nguyễn Đức M và Đào Văn H2 diễn lại được hành vi đưa tiền cho C1 mua ma túy, C1 cầm tiền đưa cho C và nhận lại ma túy từ C, C1 bán ma túy cho M và H2, sử dụng tại nhà của C.
Cùng ngày 13/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Đức M, Đào Văn H2, Triệu Quốc C1 xác định vị trí M và H2 đến gặp C1 hỏi mua ma túy, vị trí C1 nhận tiền rồi đưa tiền cho C, vị trí C lấy ma túy ra đưa cho C1, vị trí C1 đưa ma túy cho M và H2, vị trí M và H2 sử dụng ma túy tại nhà của C, vị trí C vứt ma túy khi lực lượng Công an vào kiểm tra. Kết quả Nguyễn Đức M, Đào Văn H2 và Triệu Quốc C1 đều xác định được các vị trí trên và phù hợp với nhau.
Ngày 20/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng thu giữ của Triệu Quốc C1. Kết quả không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 27/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tiến hành cho bị cáo Đoàn Cảnh C xác định các vị trí C cất giấu ma túy, vị trí C1 nhận tiền mua ma túy của M và H2, vị trí C1 đưa tiền mua ma túy của M và H2, vị trí C đưa ma túy cho C1, vị trí M và H2 sử dụng ma túy tại nhà C, vị trí C ném 02 túi nilon bên trong chứa ma túy ra khu vực góc tủ lạnh tại nhà C khi lực lượng Công an vào kiểm tra. Kết quả Đoàn Cảnh C xác định được các vị trí trên phù hợp với lời khai của bị can C1, phù hợp với lời khai của Nguyễn Đức M, Đào Văn H2.
Cùng ngày 27/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tiến hành cho Đoàn C2 Công nhận dạng đối với Triệu Quốc C1. Kết quả Công nhận ra được Triệu Quốc C1 và khẳng định C1 là người Công thuê để bán ma túy cho H2 và M vào ngày 09/6/2023 tại nhà của C tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V.
Quá trình điều tra, các bị can Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1, người liên quan Đào Văn H2 và Nguyễn Đức M khai nhận hành vi phạm tội như sau: Đoàn Cảnh C là đối tượng nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng nên C nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 08/6/2023, C một mình đi ra khu vực cây xăng Y thuộc tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V để tìm mua ma túy. Tại đây, C gặp và thỏa thuận mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1,60m, dáng người to béo, đeo khẩu trang (Công khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này) 400.000 đồng tiền ma túy Heroine. Người này cầm số tiền 400.000 đồng rồi đưa lại cho C 01 túi nilon bên trong chứa chất ma túy Heroine. C mang về nhà cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Do quen biết từ trước và biết Triệu Quốc C1- sinh năm 1988, trú tại xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là đối tượng không có việc làm, nghiện chất ma túy nên C có bàn bạc và rủ C1 về nhà C ở giúp C bán ma túy cho các con nghiện đến mua khi có nhu cầu thì được C nuôi ăn ở và trả công bằng ma túy để sử dụng và C1 đồng ý.
Khoảng 08 giờ ngày 09/6/2023, C1 một mình đi đến nhà C tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, C lấy dao lam, giấy bạc và túi nilon chứa ma túy Heroine mua được trước đó để ra mặt bàn nhựa trong nhà và bảo C1 cùng C san nhỏ ma túy để bán cho khách mua lẻ. C sử dụng dao lam cắt nhỏ tờ giấy bạc ra thành các mảnh nhỏ rồi đưa con dao lam cho C1 để C1 cắt, chia nhỏ ma túy thành các phần nhỏ. C gói các phần ma túy C1 san vào các mảnh giấy bạc Công cắt. Sau khi san xong C gói được 16 gói ma túy rồi cho 06 gói giấy bạc chứa ma túy vào 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ; 08 gói giấy bạc chứa ma túy vào 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ rồi cất giấu dưới gối ở giường ngủ nơi C nằm. Còn lại 02 gói giấy chứa ma túy thì C cho C1 01 gói để C1 sử dụng tại nhà C, còn lại 01 gói C đã sử dụng hết.
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 09/6/2023, C và C1 đang ở nhà C thì có Nguyễn Đức M- sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang và Đào Văn H2- sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đến hỏi mua ma túy. Khi M và H2 đi vào bên trong nhà thì thấy C đang nằm ở giường trong nhà, C1 đang đứng ở gần C. Thấy vậy, Nguyễn Đức M đi đến gần vị trí C1 đang đứng và nói “Để cho cái 200” thì C1 hiểu là M muốn hỏi mua 200.000 đồng chất ma túy loại Heroine, đồng thời M đưa cho C1 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, C1 nhận tiền và đi đến chỗ C nằm cách đó khoảng 02 mét đưa tiền cho C. C cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái C đang mặc rồi dùng tay phải lấy ở dưới gối 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong có 06 gói giấy bạc chứa ma túy. C lấy ra 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất ma túy đưa cho C1 để bán cho M; C1 nhận gói giấy bạc bên trong chứa ma túy từ C và mang đến đưa cho M. Sau khi nhận ma túy từ C1 thì M đi ra bàn uống nước trong phòng C ngồi sử dụng ma túy. Lúc này, H2 thấy M mua được ma túy nên H2 đi tới chỗ C1 và nói “Để cho em cái” thì C1 hiểu là H2 cũng muốn mua chất ma túy, đồng thời H2 đưa cho C1 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, C1 cầm tiền rồi mang tới đưa lại cho C. C cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái C đang mặc rồi dùng tay phải lấy ở dưới gối 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong có 05 gói giấy bạc chứa chất ma túy ra và lấy 01 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy đưa cho C1. C1 nhận gói giấy bạc bên trong chứa ma túy và mang tới đưa lại cho H2. Sau đó, H2 đi ra khu vực bàn uống nước trong phòng C mà M đang ngồi. Tại đây, H2 và M sử dụng hết số ma túy mua được trước đó. Lúc này, C nằm ở giường tại phòng khách quay mặt về phía vách nhà, không biết việc H2 và M sử dụng ma túy ở bàn nước trong phòng. Ngay sau khi M và H2 vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra. Lúc này, C lấy 02 túi nilon chứa ma túy (trong đó 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 04 gói giấy bạc chứa chất ma túy Heroine và 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 08 gói giấy bạc chứa chất ma túy Heroine) dùng tay phải ném ra khu vực góc tủ lạnh trong phòng của C thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Tại bản Cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa được công bố lời khai. Các bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Áp dụng điểm b khoản 2, 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đoàn Cảnh C từ 07 năm 03 tháng đến 7 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/6/2023. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Triệu Quốc C1 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/6/2023
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh giấy bạc một mặt bị hơ lửa được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”, “QT2”, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 con dao lam, 03 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng mặt trong màu trắng và số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là: NE 19659673 và GV 18798201)
- - Trả lại cho bị cáo Đoàn Cảnh C số tiền 7.600.000 đồng (Bẩy triệu sáu trăm nghìn đồng chẵn). Được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Triệu Quốc C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng có số IMEL1: 863898034888779, IMEL2: 863898034888761
Ngoài ra cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đoàn Cảnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Triệu Quốc C1 thuộc hộ nghèo cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 09/6/2023, tại nhà của Đoàn Cảnh C ở tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh B đã phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Đoàn Cảnh C và Triệu Quốc C1 có hành vi bán trái phép 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất ma túy Heroine cho Nguyễn Đức M- sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang thu được số tiền 200.000 đồng và bán 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất ma túy loại Heroine cho Đào Văn H2- sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thu được số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra Đoàn Cảnh C, Triệu Quốc C1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,466 gam chất ma túy Heroine, với mục đích để bán kiếm lời.
[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố các bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ chất ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành, là một trong những tệ nạn xã hội cần bài trừ bởi nó là một trong những nguyên nhân dẫn tới các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp tài sản, giết người..., là nguyên nhân dẫn tới gia đình ly tán, đã và đang ảnh hưởng rất lớn tới đời sống xã hội. Do vậy cần xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về nhân thân: các bị cáo C có nhân thân tốt, bị cáo C1 đã bị Tòa án xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” năm 2013.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về vai trò của các bị cáo thì thấy: Bị cáo C là người có vai trò cao hơn khi bị cáo là người bỏ tiền ra mua ma tuý để mang về nhà chia nhỏ ra bán cho khách. Bị cáo C1 có vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo C, bị cáo giúp bị cáo Công san ma túy thành các gói nhỏ, và bán ma túy cho C khi có khách hỏi mua ma túy của bị cáo C, bị cáo được C trả công bằng ma tuý để sử dụng và nuôi ăn ở.
[8] Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo thì thấy: mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C bán ma túy nhằm mục đích vụ lợi, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo C1 là hộ nghèo, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[10] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1,60m, dáng người to béo, đeo khẩu trang (Công khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này) đã bán ma túy cho C vào ngày 08/6/2023 tại khu vực cây xăng Y thuộc tổ dân phố Y, thị trấn N, huyện V. Ngày 29/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn N. Kết quả qua rà soát Công an thị trấn Nếnh không xác định được người đàn ông nào có đặc điểm như Công khai có biểu hiện mua bán chất ma túy tại khu vực Cây xăng Y thuộc tổ dân phố Y, thị trấn N nên Cơ quan điều tra đã tách các tài liệu liên quan đến người này ra khỏi hồ sơ vụ án, tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với Đào Văn H2, Nguyễn Đức M, Triệu Quốc C1 và Đoàn Cảnh C đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 09/6/2023 tại nhà của C. Ngày 04/10/2023, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với C, C1, M, H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là căn cứ.
[12] Đối với Đào Văn H2, Nguyễn Đức M đã có hành vi tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Đoàn Cảnh C vào ngày 09/6/2023. Quá trình điều tra xác định khi H2, M sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà C không được sự đồng ý, không biết việc H2 và M sử dụng ma túy nên hành vi của C không cấu thành tội phạm chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.
[13] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 mảnh giấy bạc một mặt bị hơ lửa được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”, “QT2”, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 con dao lam, 03 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng mặt trong màu trắng và số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX” là công cụ phương tiện phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là: NE 19659673 và GV 18798201) thu giữ của Đoàn Cảnh C là công cụ, phương tiện cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng có số IMEL1: 863898034888779, IMEL2: 863898034888761 thu giữ của Triệu Quốc C1; số tiền 7.600.000 đồng thu giữ của Đoàn Cảnh C quá trình điều tra xác định các tài sản trên các bị cáo không dùng vào việc phạm tội, cần trả lại các bị cáo, nhưng tạm giữ lại số tiền 7.600.000 đồng của Đoàn Cảnh C để đảm bảo thi hành án.
[14] Các bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.
[15] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đoàn Cảnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Triệu Quốc C1 là hộ nghèo cần miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự:
-
Căn cứ điểm b khoản 2, 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Cảnh C 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/6/2023. Phạt tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn).
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Quốc C1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 09/6/2023
-
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh giấy bạc một mặt bị hơ lửa được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”, “QT2”, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 con dao lam, 03 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng mặt trong màu trắng và số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là: NE 19659673 và GV 18798201)
- - Trả lại cho bị cáo Đoàn Cảnh C số tiền 7.600.000 đồng (Bẩy triệu sáu trăm nghìn đồng chẵn). Được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bị cáo Triệu Quốc C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng có số IMEL1: 863898034888779, IMEL2: 863898034888761
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Quốc C1. Bị cáo Đoàn Cảnh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho cácbị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số 211/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 211/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Cảnh C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
