|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 211/2024/HS - ST Ngày: 25/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Bà Mai Thị Viện
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Hồng Minh, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 203/2024/HSST/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT: 1 T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà A Y, Phố V, phường Q, thành phốThanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị M1; Bị cáo có vợ: Vũ Thị Kim N và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014;
Tiền án: Ngày 18/6/2020, TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 4 năm tù về tội “Giết người”, theo bản số: 77/2020/HSST. Chấp hành án tại Trại giam T6, Bộ C1. Ra trại ngày 21/9/2022, chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 25/3/2011, Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, mức phạt 1.000.000đ, đã chấp hành xong.
- - Ngày 09/4/2015, TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản số: 64/2015/HSPT, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024; Ngày 18/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.
2. Nguyễn Văn K, Sinh năm 1990; Giới tính: Nam; 038090038817; Nơi ĐKHKTT: Số nhà D, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà E T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết); và bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo chưa có vợ;
Tiền sự: Không
Tiền án:
- - Ngày 18/9/2012, TAND TP. Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù giam, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, (Bản án số 237/2012/HSST);
- - Ngày 21/11/2012, TAND TP. Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 08 năm 06 tháng tù giam về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, Tổng hợp hình phạt của bản án 237 ngày 18/9/2012 buộc chấp hành 09 năm 09 tháng tù. (Bản án số 283/2012/HSST)
- - Ngày 12/12/2012, TAND TP. Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 18 tháng tù giam về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. (Bản án số 307/2012/HSST).
- - Ngày 25/12/2012, TAND TP. Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 18 tháng tù giam về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã xóa án tích. (Bản án số 335/2012/HSST). Tổng cộng Nguyễn Văn K phải chấp hành 12 năm 09 tháng tù. Ra trại ngày 18/9/2022, đều chưa xóa án tích.
Nhân thân:
- - Ngày 19/6/2011, Công an phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt VPHC về hành vi: “Sử dụng trái phép tài sản của người khác”, đã thi hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024; Ngày 09/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.
3. Lê Hữu T2, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà A Y, Phố V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Hữu C (đã chết); và bà Lê Thị P; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Ngày 08/6/2020,TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 5 năm tù giam về tội giết người, theo bản số: 66/HSST. Chấp hành án tại Trại giam T6, Bộ C1, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023, chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2024; Ngày 16/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.
4. Phạm Nam A, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi cư trú: Số nhà E, N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn D (đã chết); và bà Hoàng Thị Y; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án; tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 22/6/2018, TAND thành phố Thanh Hoá xử phạt 05 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024; Ngày 18/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.
5. Phạm Hoàng Đ, Sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: Phố V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà D, L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Huy H và bà Nguyễn Thị D1; Bị cáo chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 22/6/2018, TAND thành phố Thanh Hoá xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, theo bản số: 127/2018/HSST. Chấp hành án tại Trại giam T6, Bộ C1. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2022, chưa được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2024; Ngày 18/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T:
Ông Mai Văn B - Luật sư – Văn phòng L2 - Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc A1 - Sinh năm 1995 “Vắng”
- Anh Lê Hùng T3 - Sinh năm 1990 “Vắng”
- Bà Nguyễn Thị T1 - Sinh năm 1952 “Vắng”
Địa chỉ: Số nhà C H, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Số nhà E T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thùy L - Sinh năm 1992 “Vắng”
- Ông Ngô Văn A2 - Sinh năm 1972 “Vắng”
- Chị Phạm Thị L1 - Sinh năm 1993 “Vắng”
Địa chỉ: Số nhà B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: C Á, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Số nhà D L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa khách sạn F, MBQH C phường Đ thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn K, đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 01gói giấy bạc, bên trong chứa 10 viên nén hình trụ tròn màu đỏ nghi là ma túy;
Khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn K thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu tím than chứa 128 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 viên nén hình tròn, màu xanh;
K khai nhận số viên nén trên là ma túy, K mua của Nguyễn Văn T vào ngày 29/4/2024 để sử dụng và bán kiếm lời.
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, tổ Công tác Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng A, trường L3, thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện bắt quả tang Phạm Nam A, đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 02 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Phạm Nam A khai là 02 túi ketamine, Nam A mua của Nguyễn Văn T để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang.
Ngày 09/5/2024, Phạm Văn T4 đến Công an thành phố T đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu xám và 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T4 khai nhận đã bán trái phép chất ma túy cho nhiều người trong đó có Nguyễn Văn K, Phạm Nam A, Phạm Hoàng Đ và có lần nhờ Lê Hữu T2 mang ma túy đi giao cho người mua ma túy.
Khám xét khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T thu giữ:
- - 04 túi nilon (03 túi màu tím than và 01 túi màu hồng) bên trong đều chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh; 02 túi nilon (01 túi màu đen và 01 túi màu trắng) bên trong chứa chất bột màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 07 viên nén màu xám; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 12 túi nilon màu trắng đen, bên trong mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu xám; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 10 vỏ túi nilon màu trắng, viền đỏ, đều có kích thước khoảng (4x6)cm.
Ngày 09/5/2024, Phạm Hoàng Đ đến Công an thành phố T đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Khám xét khẩn cấp đối với Phạm Hoàng Đ thu giữ: 09 túi nilon màu trắng, đều có kích thước khoảng (1x2)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, có kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, có kích thước khoảng (4x6)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng; 03 túi nilon màu trắng, đều có kích thước khoảng (1x3)cm, trong đó có 01 túi đựng 03 viên nén hình tròn, màu đỏ và 02 túi, bên trong mỗi túi đều đựng 10 viên nén hình tròn màu đỏ.
Ngày 10/5/2024, Lê Hữu T2 đến Công an thành phố T đầu thú về hành vi cùng với Nguyễn Văn T mua bán trái phép chất ma túy.
* Đồ vật, tài liệu tạm giữ, thu giữ:
- - Thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 xe mô tô BKS: 36F2-7416, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, loại bàn phím số;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn K: 01 điện thoại di động Iphone XS;
- - Thu giữ của Phạm Hoàng Đ: 01 cân điện tử màu đen bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S215G;
- - Thu giữ của Lê Hữu T2: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7;
- - Tạm giữ của Nguyễn Ngọc A1: 01 điện thoại di động Iphone 8;
* Kết luận giám định:
Tại Bản kết luận giám định số: 1820/KL-KTHS, ngày 09/5/2024 và bản kết luận giám định số: 1899/KL-KTHS, ngày 15/5/2024 của Phòng KTHS, Công an tỉnh T, kết luận:
- - Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn K: 01 gói giấy bạc bên trong chứa 10 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, có tổng khối lượng: 1,106 gam là ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu tím than chứa 128 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 viên nén hình tròn, màu xanh, có tổng khối lượng: 14,179 gam, là ma túy, loại Methamphetamine;
- - Đối với vật chứng thu giữ của Phạm Nam A: 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng 0,890 gam, là ma túy loại Ketamine;
- - Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu xám, có tổng khối lượng: 0,772gam là ma túy loại MDMA; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng: 0,484 gam, là ma túy loại Ketamine; 04 túi nilon (03 túi màu tím than và 01 túi màu hồng) bên trong đều chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh, có tổng khối lượng: 52,778gam, là ma túy loại Methamphetamine; 02 túi nilon (01 túi màu đen và 01 túi màu trắng) bên trong chứa chất bột màu đỏ, có tổng khối lượng: 18,873gam, là ma túy loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 07 viên nén màu xám, có tổng khối lượng: 2,668 gam, là ma túy, loại MDMA; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; có tổng khối lượng: 2,657gam, là ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 12 túi nilon màu trắng đen, bên trong mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; có tổng khối lượng: 5,484 gam, là ma túy loại Ketamine; 01túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu xám, có tổng khối lượng: 0,772gam, là ma túy loại MDMA; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng: 0,484 gam, là ma túy loại Ketamine;
- - Đối với vật chứng thu giữ của Phạm Hoàng Đ: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 11 túi nilon màu trắng, có tổng khối lượng là 1,878gam, là ma tuý loại Methamphetamine; 23 viên nén hình tròn màu đỏ, đựng trong 03 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 2,388gam, là ma tuý loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 29/04/2024, Nguyễn Văn T đang ở nhà trọ thì Nguyễn Văn K gọi điện cho T (qua ứng dụng Telegarm) hỏi mua của T 01 túi hồng phiến (200 viên). T đồng ý bán cho K 01 túi hồng phiến (200 viên) với giá là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng), đồng thời hẹn K ra khu vực quán K3, đường D, phường Đ, thành phố T để giao hàng. Sau đó, T lấy 01 túi chứa 200 viên hồng phiến rồi một mình đi xe máy ra khu vực bên hông quán K3 giao cho K. K chuyển vào tài khoản ngân hàng M3 của T 8.500.000₫ (qua ứng dụng Banking trên điện thoại di động của K) như đã thoả thuận. Sau khi mua ma túy của T, K đem về phòng ngủ của K cất giấu để sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 03/5/2024, K lấy 10 viên hồng phiến đem ra khu vực trước cửa khách sạn F, MBQH337, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Số hồng phiến còn lại (140 viên) của K cất giấu ở nhà, bị Cơ quan Công an thu giữ khi khám xét.
Khoảng 18 giờ ngày 03/05/2024, T đang ở nhà trọ thì Phạm Hoàng Đ, đến phòng trọ hỏi mua của T 01 túi ma tuý đá và 30 viên hồng phiến với giá 2.000.000₫ (hai triệu đồng. Sau khi mua được ma tuý của T, Đ đem về nhà trọ dùng cân tiểu ly, chia số ma tuý đá còn lại thành 11 túi nhỏ, còn 30 viên hồng phiến, Đ chia thành 3 túi, mỗi túi 10 viên, rồi cất giấu ở gầm tủ giầy, cạnh cửa ra vào nhà của Đ để có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 12 giờ trưa ngày 05/5/2024, Đ đem 10 viên hồng phiến ra khu vực cổng trường Chính trị, phường Q để bán. Tại đây, có người đàn ông khoảng 30 tuổi (Đ không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể) hỏi mua của Đ 07 viên hồng phiến. Đ đồng ý bán cho người đàn ông này với giá 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) còn lại 03 viên hồng phiến, Đ đem về cất giấu dưới gầm tủ giầy, cùng với số ma tuý mà Đ cất giấu trước đó. Chiều ngày 09/5/2024, khi thấy Cơ quan Công an đến nhà khám xét, Đ đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma tuý còn lại gồm 23 viên hồng phiến và 11 túi ma tuý đá và tự nguyện xin đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.
Khoảng 15 giờ ngày 08/05/2024, T đang ở nhà trọ thì Phạm Nam A, liên lạc với T qua ứng dụng zalo hỏi mua của T 50 viên ma túy hồng phiến với giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng), Tỉnh hẹn Nam Anh ra cổng trường C2, đường L, P. Q, thành phố T nhận hàng. Sau đó, T lấy 50 viên hồng phiến bỏ vào túi nilon rồi cuốn băng dính màu vàng bên ngoài, để chờ bán cho Nam A. Do chưa thấy Nam A gọi lại, nên T bỏ lại gói ma tuý trong hộp màu đen để trên tầng 3, rồi đi ra ngoài có việc. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Nam A gọi lại nói đang ở gần cổng trường cấp 2 Q, T nói đang ra ngoài có việc nên T bảo để T nhờ T2 đem ma tuý ra giao cho Nam A. Sau đó, T gọi điện cho Lê Hữu T2 (qua ứng dụng Messenger của T2 có tên tài khoản là “Kênh Rót”), bảo T2 lên tầng 3 lấy trong hộp giấy màu đen 01 gói hồng phiến, được cuộn băng dính màu vàng (bên trong có 50 viên hồng phiến mà T đã đóng gói từ trước) mang đến cổng trường C2, P. Q, thành phố T ném ở đó cho Nam A đến lấy. T2 đồng ý rồi đi lên tầng 3, lấy trong hộp giấy màu đen 01 gói hồng phiến được cuốn kín bên ngoài bằng băng dính màu vàng (T2 không kiểm tra nên không biết số lượng hồng phiến là bao nhiêu) đem ra ném ở bãi đất trống trước cổng trường C2, rồi đi ra xa cách đó một đoạn đứng quan sát. Một lúc sau, T2 thấy Nam A đến nhặt gói ma tuý trên rồi T2 đi về phòng trọ, gọi lại cho T thông báo là Nam A đã lấy gói hồng phiến. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày thì Nam A chuyển vào tài khoản ngân hàng M3 của T 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng) trong đó có 2.500.000đ tiền mua ma túy và 100.000₫ là tiền trả nợ, do Nam A vay của T trước đó.
Khoảng 13 giờ ngày 09/05/2024, Nam A tiếp tục gọi điện qua ứng dụng Zalo cho T hỏi mua 01 chỉ ma túy ketamine, T đồng ý bán cho Nam A 01 chỉ Ketamine với giá 3.200.000đ và hẹn N đến khu vực gần trường C2, đoạn đường L, P. Q, thành phố T để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, Nam A đến cổng trường C2, một lúc sau, T đi một mình ra giao cho Nam A 2 túi ketamine, Nam A hẹn sẽ chuyển tiền cho T sau. T đồng ý. Sau khi mua được 02 túi ketamine của T, Nam A cầm đi đến khu vực Cổng A trường L3, thuộc phường Đ để có ai hỏi mua, Nam A sẽ bán với giá 4.200.000đ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Trong lúc chờ khách đến mua ma tuý thì Nam A bị Công an thành phố T kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Khoảng 15 giờ ngày 07/5/2024, Lê Hùng T3, sinh năm 1993, trú tại phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa (là bạn của Nguyễn Ngọc A1) hỏi Ngọc A1 biết chỗ nào mua ma tuý thì mua giúp cho T3 1.000.000đ tiền ma túy đá. Ngọc A1 đồng ý, rồi bảo T3 chuyển vào tài khoản của Ngọc A1 1.000.000đ để Ngọc A1 đi mua ma tuý. T3 đồng ý rồi chuyển vào tài khoản của Ngọc A1 1.000.000đ. Sau đó, Ngọc A1 nhắn tin cho T nói có bạn của Ngọc Al nhờ mua 1.000.000đ tiền ma tuý đá, T đồng ý, bảo Ngọc A1 đến nhà trọ của T. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Ngọc Al và T3 đi taxi đến bãi đất trống, phía trước cổng trường C3, phường Q, TP T, rồi Ngọc A1 gọi điện bảo T ra cổng trường C3 (phường Q, thành phố T), T đồng ý rồi đi xe máy ra cổng trường Chính trị đón Ngọc A1 về nhà trọ. Tại đây, T lấy một ít ma túy đá, một ít bột hồng phiến trộn lẫn với nhau, đóng vào 1 túi nilon màu trắng, rồi đưa cho Ngọc A1 cầm, sau đó T chở Ngọc A1 quay ra chỗ xe taxi, rồi Ngọc Al ném túi ma tuý vào xe cho T3. Sau đó, T3 đi về một mình, còn Ngọc Al quay về nhà trọ của T chơi. Lúc này, T có việc đi ra ngoài còn Ngọc Al ở lại phòng trọ của T. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Phạm Trung K1, sinh năm 1995, trú tại C D, phường N, thành phố T đến phòng trọ của T hỏi mua 500.000đ tiền ma tuý đá, do T đi vắng, nên Ngọc A1 bảo K1 chuyển tiền vào tài khoản cho Ngọc A1, rồi Ngọc Al mua hộ ma tuý cho, K1 đồng ý rồi chuyển vào tài khoản của Ngọc A1 500.000đ. Nhận được tiền, Ngọc A1 nhắn tin, gọi điện cho T, bảo T về bán ma tuý cho K1. Tuy nhiên, lúc này T đang đi xe máy, không để ý điện thoại nên không trả lời. Do không thấy T trả lời, nên Ngọc A1 chuyển lại 500.000đ cho K1, sau đó K1 ra về. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T về phòng trọ, Ngọc A1 nói với T là lúc nãy có thằng K1 đến hỏi mua ma tuý, nhắn tin không thấy T trả lời nên K1 đã về. Tỉnh nói đang đi xe máy, không để ý điện thoại. Một lúc sau, K1 quay lại phòng trọ hỏi mua của T 500.000đ tiền hồng phiến. T đồng ý rồi bán cho K1 05 viên hồng phiến, K1 nhận ma tuý rồi chuyển trực tiếp vào tài khoản ngân hàng M3 của T 500.000đ. Khoảng 23 giờ cùng ngày, thì Ngọc A1 chuyển lại cho T số tiền 1.000.000đ tiền mà T3 chuyển cho Ngọc A1 để mua ma tuý trước đó.
Khoảng 16 giờ chiều ngày 09/5/2024, T đem 02 viên thuốc lắc và 01 túi ma tuý đá, ra khu vực cổng Bệnh viện Tâm thần, thuộc phường Q, thành phố T để có ai hỏi mua thì bán. Lúc này, T bị Cơ quan điều tra, Công an thành phố T đến triêu tập, T biết việc T bán ma tuý cho Phạm Nam A đã bị phát hiện nên T đã tự nguyện giao nộp số ma tuý trên và đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Toàn bộ số ma tuý còn lại Tỉnh cất giấu tại nhà trọ, đã bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T khai mua của một người đàn ông qua ứng dụng Zalo có tên tài khoản “Thích thích quá hay hay quá” (T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không có số điện thoại liên lạc) vào ngày 28/4/2024 gồm 05 túi ma túy hồng phiến, 15 viên ma túy loại thuốc lắc, 10 chỉ ma túy Ketamine và một hộp 10gam loại ma túy đá, với giá 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) tại khu vực chân cầu H đem về nhà trọ cất giấu để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
* Căn cứ lời khai của bị cáo, cơ quan điều tra tiến hành điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của T xác định trong ứng dụng Zalo của T có tài khoản “Thích thích quá hay hay quá”, tuy nhiên, tài khoản không có ảnh đại diện và không hiển thị số điện thoại hoặc bất kỳ thông tin cá nhân nào liên quan đến chủ tài khoản. Tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn T, xác định trong khoảng thời gian trên không có dao dịch chuyển tiền đi với số tiền lớn từ 40.000.000đ trở lên, không phát hiện giao dịch chuyển tiền đi có tính liên tục từ tài khoản của T đến một tài khoản ngân hàng khác. Bản thân T chưa gặp người này bao giờ, không biết người có tài khoản “Thích thích quá hay hay quá” là ai. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ về người đàn ông đã bán ma tuý cho T.
Đối với Nguyễn Ngọc A1 là người được Lê Hùng T3 nhờ mua ma tuý, do biết T bán ma tuý, nên Ngọc A1 đồng ý và đã liên hệ với Nguyễn Văn T để mua cho T3 1.000.000đ tiền ma tuý đá. Mặc dù Ngọc A1 là bạn của T và biết T bán ma tuý, tuy nhiên giữa T và Ngọc A1 không có bất kỳ trao đổi thoả thuận gì với nhau về việc mua bán ma tuý, T không nhờ Ngọc A1 giới thiệu khách để T bán ma tuý. Do trước đó, T nói nếu Ngọc A1 mua thì T sẽ để cho giá gốc, nên khi T3 nhờ mua ma tuý, Ngọc A1 bảo T3 chuyển khoản cho Ngọc Al và trực tiếp liên hệ với T để hỏi mua ma tuý, mục đích là để mua được nhiều ma tuý hơn, rẻ hơn, như vậy Ngọc Al và T3 có nhiều ma tuý để sử dụng (do sau khi mua về T3 sẽ đưa cho Ngọc A1 một ít ma tuý để sử dụng). Do vậy, hành vì trên của Ngọc A1 là nhằm giúp sức cho người mua, nhằm hưởng lợi từ người mua ma tuý (được người mua cắt cò, cho ma tuý để sử dụng), chứ không nhằm giúp sức cho T trong việc bán ma tuý. Do số ma tuý trên T3 và Ngọc A1 đã sử dụng hết nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ngọc Al trong vụ án này.
Đối với Lê Hùng T3, là người nhờ Ngọc A1 đi mua ma tuý, mục đích là để sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma tuý T3 đã sử dụng hết số ma tuý. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Hùng T3.
Căn cứ kết quả điều tra và kết quả xét nghiệm ma tuý có trong nước tiểu của Nguyễn Ngọc A1 và Lê Hùng T3 dương tính với ma tuý loại Methamphetamie. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T, đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc A1 và Lê Hùng T3 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định.
Đối với Phạm Trung K1, là người trực tiếp mua ma tuý của T. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập đối với Phạm Trung K1 để đấu tranh, làm rõ. Tuy nhiên Công an phường N cung cấp, Phạm Trung K1 có hộ khẩu tại số nhà C D, Phường N, TP ., tuy nhiên gia đình K1 đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, không xác định được hiện nay K1 đi đâu, làm gì. Do đó chưa đủ căn cứ để đấu tranh làm rõ hành vi của Nguyễn Trung K2 để xử lý trong vụ án này. Cơ quan điều tra sẽ tách tài liệu liên quan đến hành vi của Phạm Trung K1 để tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
Tại bản cáo trạng số 71/CTr - VKS - P1 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn K, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Lê Hữu T2, Phạm Hoàng Đ và Phạm Nam A, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58; Điều 47 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 19 năm đến 19 năm 06 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 20 triệu đồng;
- - Áp dụng điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K mức án từ 10 năm đến 11 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; (Khoản 2 Điều 51; Điều 58 đối với bị cáo T2; Khoản 2 Điều 51bị cáo Đ) đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hữu T2 mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng.
Phạm Hoàng Đ mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng.
Phạm Nam A mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng.
Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Người bào chữa bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Thống nhất về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã thành khẩn khai báo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước, giảm nhẹ hình phạt và giảm mức tiền phạt bổ sung cho bị cáo được áp dụng mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 28/4/2024 đến ngày 09/5/2024, Nguyễn Văn T đã có hành vi mua 60.000.000đ ma tuý đem về phòng trọ cất giấu. Sau đó, Nguyễn Văn T đã bán cho Nguyễn Văn K, Phạm Nam A và Phạm Hoàng Đ, nhằm thu lợi bất chính. Do đó, ngoài việc phải chịu trách nhiệm về khối ma tuý đã thu giữ tại nhà trọ của T, T còn phải chịu trách nhiệm về khối lượng các chất ma tuý thu giữ của Nguyễn Văn K, Phạm Nam A, Phạm Hoàng Đ. Tổng khối lượng các chất ma tuý mà T phải chịu trách nhiệm trong vụ án này là 97,399 gam Methamphetamine, MDMA và 6,858 gam Ketamine. Tương đương với 99,685 gam Methamphetamine, MDMA hoặc 299,055 gam Ketamine.
Ngày 29/4/2024, Nguyễn Văn K mua 15,285 gam ma tuý, loại Methamphetamine của Nguyễn Văn T mang về nhà cất giấu. Ngày 03/5/2024, K mang ma túy đi bán thì bị bắt quả tang.
Ngày 09/5/2024, Phạm Nam A mua 0,890gam ma tuý, loại Ketamine của Nguyễn Văn T để mang đi bán kiếm lời thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, vào ngày 08/5/2024, Nam A mua của T 50 viên hồng phiến với giá 2.500.000đ về để sử dụng. Số ma túy này T nhờ Lê Hữu T2 mang đến giao cho Nam A.
Ngày 03/5/2024, Phạm Hoàng Đ mua 30 viên hồng phiến và 01 túi ma túy đá của Nguyễn Văn T để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Đ đã bán cho một người không quen biết 07 viên hồng phiến. Số còn lại 4,266gam ma tuý, loại Methamphetamine Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
Ngày 08/5/2024, Lê Hữu T2 có hành vi mang 01 gói ma tuý (50 viên hồng phiến) đi bán cho Phạm Nam A, theo sự chỉ đạo của Nguyễn Văn T.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Bị cáo Nguyễn Văn T mua bán 02 chất ma túy có tổng khối lượng là 97,399 gam ma túy loại Methamphetamine; MDMA và 6,858 gam ma túy loại Ketamine, nên tội danh và khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn K mua bán ma túy có tổng khối lượng là 15,285g ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra bị cáo K đã bị xét xử về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích, lần phạm tội này rất nghiêm trọng do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phạm Nam A mua 0,890gam ma tuý, loại Ketamine của Nguyễn Văn T để mang đi bán kiếm lời;
Bị cáo Phạm Hoàng Đ mua 30 viên hồng phiến và 01 túi ma túy đá của Nguyễn Văn T để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Đ đã bán cho một người không quen biết 07 viên hồng phiến. Số còn lại 4,266gam ma tuý, loại Methamphetamine Đ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
Bị cáo Lê Hữu T2 có hành vi mang 01 gói ma tuý (50 viên hồng phiến) đi bán cho Phạm Nam A, theo sự chỉ đạo của Nguyễn Văn T.
Các bị cáo Nam A; bị cáo Đ và bị cáo T2 tội danh và khung hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, các bị cáo đều là những người hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
[5] Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn T là người đi mua ma tuý về cất giấu để bán. Ngoài những lần trực tiếp bán ma tuý cho K, Đ, N, T còn chỉ đạo Lê Hữu T2 đem 01 gói hồng phiến ra cổng trường C2 bán cho Phạm Nam A. Lê Hữu T2 biết rõ đó là ma tuý, nhưng sau khi được T nhờ, T2 đã tích cực giúp sức cho T để bán ma tuý cho Nam A. Do đó, T và T2 đồng phạm với nhau về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Trong đó, Nguyễn Văn T là người có vai trò chính, Lê Hữu T2 là người giúp sức cho bị cáo T.
Nguyễn Văn K, Phạm Nam A, Phạm Hoàng Đ đều có hành vi mua ma tuý của Nguyễn Văn T để bán lại kiếm lời. Do đó các bị cáo phạm tội độc lập, không có tính đồng phạm, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm của từng bị cáo theo khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo.
[6] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Cả 05 bị cáo trong vụ án này đều có nhân thân xấu; Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên và tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Hữu T2, Phạm Hoàng Đ đã bị xét xử chưa được xóa án tích lại tiếp tục pham tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng là tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 251 của BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, các bị cáo T, T2; Đ đầu thú và có thời gian tham gia Quân đội, bị cáo K có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên bị cáo T; T2; K và bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nam A được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Do các bị cáo T và bị cáo Đ đã được hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Do bị cáo K; Nam A và bị cáo T2 chưa được hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Đối với số tiền 14.500.000VNĐ (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng) bị cáo T bán ma túy gồm: Bán cho K ngày 29/4/2024 lấy 8.500.000đ; bán ma túy cho Đ ngày 03/5/2024 lấy 2.000.000đ; bán cho Nam Anh ngày 08/5/2024 bán cho Nam Anh 2.500.000đ; ngày 09/5/2024 bán cho Nam A 3.200.000đ(Số tiền này bị cáo chưa nhận nên không truy thu); bán cho Ngọc A1 ngày 07/5/2024 lấy 1.500.000đ. Số tiền 700.000đ (Bảy trăm ngàn đồng) bị cáo Đ bán ma túy ngày 05/5/2024 mà có cần truy thu để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;
[7] Về vật chứng: Các vật chứng cần tiêu hủy gồm:
- - Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 cân tiểu ly và túi nilon không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- + 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "Phạm Nam A". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lưu Bình N2, Trịnh Thị Thu H1, Nguyễn Trần Đ1 và các hình dấu của phòng KTHS Công an tỉnh T.
- + 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "CATP.Thanh Hóa TC1503". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H2, Hoàng Trung H3 và các hình dấu của phòng KTHS Công an tỉnh T.
- + 01 (một) Cân tiểu ly bằng nhựa, màu đen bạc;
- + 10(mười) Vỏ túi nilon màu trắng, viền đỏ, dều có KT khoảng (4x6)cm;
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm:
- + 01 (một) Điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn T;
- + 01(một) Điện thoại di động N3 dạng bàn phím, màu xanh, mặt điện thoại bị vỡ. Máy cũ đã qua sử dụng không kiếm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn T;
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone XS, màu trắng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn K;
- + 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu trắng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Phạm Hoàng Đ
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone 7, màu xám. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Hữu T2;
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone 8, màu vàng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Ngọc A1;
Theo quy định tại khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58; Điều 47 Bộ luật hình sự; (Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn T);
Căn cứ điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; (Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn K);
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; (Áp dụng đối với bị cáo Lê Hữu T2);
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; (Áp dụng đối với bị cáo Phạm Hoàng Đ);
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; (Áp dụng đối với bị cáo Phạm Nam A);
Khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án (Áp dụng chung đối với cả năm bị cáo);
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K, Lê Hữu T2, Phạm Hoàng Đ và bị cáo Phạm Nam A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Nguyễn Văn T 19 năm 06 tháng (M2 chín năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.
Xử phạt: Nguyễn Văn K 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.
Xử phạt: Phạm Hoàng Đ 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.
Xử phạt: Lê Hữu T2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2024.
Xử phạt: Phạm Nam A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10.000.000₫ (Mười triệu đồng); Phạt bị cáo Phạm Hoàng Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- - Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 cân tiểu ly và túi nilon không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- + 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "Phạm Nam A". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lưu Bình N2, Trịnh Thị Thu H1, Nguyễn Trần Đ1 và các hình dấu của phòng KTHS Công an tỉnh T.
- + 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "CATP.Thanh Hóa TC1503". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T5, Trần Thị Thúy H2, Hoàng Trung H3 và các hình dấu của phòng KTHS Công an tỉnh T.
- + 01 (một) Cân tiểu ly bằng nhựa, màu đen bạc thu của bị cáo Đ;
- + 10(mười) Vỏ túi nilon màu trắng, viền đỏ, dều có KT khoảng (4x6)cm thu của bị cáo Đ;
* Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm:
- + 01 (một) Điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu hồng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn T;
- + 01(một) Điện thoại di động N3 dạng bàn phím, màu xanh, mặt điện thoại bị vỡ. Máy cũ đã qua sử dụng không kiếm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn T;
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone XS, màu trắng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Văn K;
- + 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu trắng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Phạm Hoàng Đ
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone 7, màu xám. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Hữu T2;
- + 01(một) Điện thoại di động Iphone 8, màu vàng. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Nguyễn Ngọc A1;
Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 05/TV- CTHADS ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 14.500.000VNĐ (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng);
* Truy thu của bị cáo Phạm Hoàng Đ để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 700.000VNĐ (Bảy trăm ngàn đồng);
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn K, Lê Hữu T2, Phạm Hoàng Đ và bị cáo Phạm Nam A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tân |
Bản án số 211/2024/HS - ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy (illegal trading of narcotics)
- Số bản án: 211/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Illegal trading of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy
