Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 211/2024/HS-ST

Ngày 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Diễm Hạnh – Giáo viên;

Ông Chu Văn Hùng – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 198/2024/TLST-HS ngày 15/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024, đối với các bị cáo:

  1. HÀ VĂN HIẾU, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2007; tính đến ngày phạm tội được 16 tuổi 04 tháng 24 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D và bà Dương Thị H; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  2. NGUYỄN THẾ ĐẠT, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2007; tính đến ngày phạm tội được 16 tuổi 02 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  3. ĐẶNG GIA KHÁNH, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2007; tính đến ngày phạm tội được 16 tuổi 04 tháng 23 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 và bà Khúc Kim T2; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  4. PHẠM QUANG HUY, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2006; tính đến ngày phạm tội được 17 tuổi 03 tháng 04 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Vũ Thị L; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  5. NÔNG DUY MẠNH, sinh ngày 08 tháng 10 năm 2007; tính đến ngày phạm tội được 16 tuổi 02 tháng 23 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn B1 và bà Nông Thị V; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

  6. ĐẶNG NHẬT NAM, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2006; tính đến ngày phạm tội được 17 tuổi 03 tháng 09 ngày; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T3 và bà Trần Thị V1; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đồng thời là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Hà Văn D và bà Dương Thị H (bố mẹ đẻ của bị cáo Hà Văn H2), địa chỉ: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
  • Ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B (bố mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Thế Đ), địa chỉ: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
  • Ông Đặng Văn T1 và bà Khúc Kim T2 (bố mẹ đẻ của bị cáo Đặng Gia K), địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
  • Bà Vũ Thị L (mẹ đẻ của bị cáo Phạm Quang H3), địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
  • Ông Nông Văn B1 và bà Nông Thị V (bố mẹ đẻ của bị cáo Nông Duy M), địa chỉ: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
  • Ông Đặng Văn T3 và bà Trần Thị V1 (bố mẹ đẻ của bị cáo Đặng Nhật N), địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo, gồm:

  • Người bào chữa cho các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ: Luật sư Mạc Thị H4 - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
  • Người bào chữa cho các bị cáo Nông Duy M, Đặng Nhật N: Luật sư Vũ Văn S - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
  • Người bào chữa cho các bị cáo Đặng Gia K, Phạm Quang H3: Ông Khuông Thanh Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (vắng mặt).

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 2008, (có mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu L1: Bà Vương Thị H5, sinh năm 1984 (có mặt).

    Cùng địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Anh Ngô Minh Đ2, sinh năm 2007, (có mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Đ2: Ông Ngô Văn H6, sinh năm 1979 (có mặt).

    Cùng địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Anh Nguyễn Hoài N1, sinh năm 2005 (có mặt);

    Địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đặng Minh H7, sinh năm 2004, (vắng mặt);

    Địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người làm chứng:

Ông Đặng Văn T4, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

  1. Anh Đặng Hoàng V2, sinh năm 2008, (có mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu V2: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1981 (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  2. Cháu Đặng Gia K1, sinh năm 2008, (có mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu K1: Ông Đặng Văn T4, sinh năm 1982 (có mặt).

    Cùng địa chỉ: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Cháu Ngô Duy L2, sinh năm 2008, (vắng mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu L2: Bà Lưu Thị Thùy T5, sinh năm 1990 (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Tổ H, phường C, TP., tỉnh Thái Nguyên.

  4. Cháu Nguyễn Minh H8, sinh năm 2007, (vắng mặt);

    Người đại diện theo pháp luật của cháu H8: Bà Phùng Thị N2, sinh năm 1987 (vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 31/12/2023 nhóm thanh niên 08 người gồm: Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N, Đặng Hoàng V2, Đặng Gia K1 tập trung tại bãi cát thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 10 phút sau, anh Ngô Minh Đ2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda – Wave, BKS 20B2 – 557.78 chở anh Nguyễn Thành L1 và anh Nguyễn Hoài N1; anh Nguyễn Minh H8 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda – Vision, màu trắng không rõ BKS chở anh Nguyễn Duy L3 đi đến đổ xăng tại cây xăng cơ sở I, gần bãi cát.

Sau khi đổ xăng nhóm anh Đ2 điều khiển xe đi về hướng thành phố T. Nhóm 8 nam thanh niên cho rằng nhóm anh Đ2 nhìn đểu và có thái độ thách thức nên Hà Văn H2 hô “Đuổi bọn nó đi”, mục đích hô hoán nhóm mình đuổi theo để đánh nhóm anh Đ2. Hà Văn H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave màu trắng, BKS 20K1-035.73 chở Nông Duy M; Phạm Quang H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave màu xanh đen, BKS 20B2 – 498.31 chở Đặng Duy K2; Nguyễn Thế Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave màu đen, BKS 20B1-936.49 chở Đặng Gia K1; Đặng Nhật N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave màu đen, BKS 20K1-004.07 chở Đặng Hoàng V2. Nhóm của H2 đuổi theo nhóm của anh Đ2 từ cây xăng hướng đến thành phố T được khoảng 100m thì rẽ vào ngõ bên trái, tiếp tục đi theo ngõ này khoảng 1km thì rẽ phải đi đường Đ thuộc phường Đ, thành phố T. Quá trình đuổi H2 rút thắt lưng của H2 ra đưa cho M. M sử dụng chiếc thắt lưng H2 đưa cho để vụt anh Đ2, L1, N. Khi đuổi đến khu vực ngã tư đèn xanh đỏ thuộc tổ dân phố N, phường Đ, thành phố T thì anh Đ2 bị vút trúng tay, mất lái đâm xuống ruộng phía bên phải theo hướng đi, còn anh H2 và anh L3 bỏ chạy được. Nhóm của H2 dừng xe lại. H2 và K2 lấy thắt lưng từ tay M nhảy xuống ruộng đi đến gần vị trí anh Đ2, L1, N sử dụng thắt lưng vụt liên tiếp nhiều nhát vào người anh L1, N và Đ2 đang nằm dưới ruộng. K1 đứng trên đường sử dụng 02 viên đá có sẵn ở đó ném về phía anh L1, N và Đ2. Khoảng 5 phút sau, nhóm của H2 dừng lại và lên xe mô tô rời khỏi hiện trường. Anh Đ2, N, L1 được đưa đi điều trị tại Bệnh viện T7.

Hậu quả:

Anh Ngô Minh Đ2 bị 01 vết thương tại vùng chán, kích thước 0,5x 3cm có rỉ máu; 01 vết xây sát vùng cằm. Khi vào viện đau, hạn chế vận động vai phải, cổ tay trái ấn có điểm đau nhói, vị trí tương ứng 1/3 giữa xương đòn phải, cổ tay trái. Chuẩn đoán gãy 1/3 xương đòn phải, gãy đầu dưới xương quay và mỏm trâm trụ trái.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 134/KLTTCT-TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận đối với thương tích của anh Ngô Minh Đ2 như sau:

  1. Các kết quả chính: Sẹo vùng chán, tỷ lệ 3%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật cứng có cạnh; gãy xương đòn, tỷ lệ 6%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động với vật tày; gãy đầu dưới xương quay trái, tỷ lệ 6%; gãy mỏm trâm trụ trái, tỷ lệ 6%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động với vật tày.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Minh Đ2 tại thời điểm giám định là 19% (Mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Anh Nguyễn Hoài N1 bị 01 vết thương tại da mặt trong cánh tay trái, kích thước 10x 5cm; 01 vết rách da chảy máu phải khâu 04 mũi kích thước 10cm ở mặt trong cánh tay trái; 01 vết xước da dài 10cm ở trên cổ tay trái; 01 vết xước da ở đầu gối trái kích thước 01x02cm; 01 vết xước da kích thước 15x05cm ở vùng mu bàn chân phải; 01 vết tím ở đuôi mắt trái kích thước 0,2x0,1cm.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/KLTTCT-TTPY ngày 04/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Hoài N1 như sau:

  1. Các kết quả chính: Sẹo cánh tay trái vết 1, tỷ lệ 2%, sẹo cánh tay trái vết 2, tỷ lệ 3%, sẹo cánh tay trái vết 1, tỷ lệ 1%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật cứng có cạnh; Sẹo mu bàn chân phải, tỷ lệ 2%, sẹo đầu gối trái, tỷ lệ 1%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động với vật tày.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoài N1 tại thời điểm giám định là 9% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Anh Nguyễn Thành L1 bị 01 vết rách da chảy máu, kích thước 1x 1cm ở vùng cánh tay trái; 01 vết rách da chảy máu kích thước 2x2cm ở dưới đầu gối trái; 01 vết xước kích thước 5x6cm ở trên mắt cá chân bên phải.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 133/KLTTCT-TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Thành L1 như sau:

  1. Các kết quả chính: Sẹo cánh tay trái, tỷ lệ 1%, sẹo cẳng chân trái, tỷ lệ 1%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật cứng có cạnh.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành L1 tại thời điểm giám định là 2% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại cơ quan điều tra, Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản xác định hiện trường; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng vụ án gồm: 01 thắt lưng da màu xanh đen có kẻ sọc ô vuông màu xanh và đen, mặt bằng kim loại chữ “LV”, đã qua sử dụng của Đặng Gia K, sau khi thực hiện hành vi phạm tội K đã vứt trên đường đi. Hiện không thu hồi được; 01 thắt lưng da màu vàng, mặt thắt lưng bằng kim loại chữ “GC”, đã qua sử dụng của Hà Văn H2, sau khi thực hiện hành vi phạm tội H2 đã vứt trên đường đi. Hiện không thu hồi được; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 20B2-498.31, số khung RLHJA3922MY456970, số máy JA39E2482199, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Phạm Quang H3; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu trắng, BKS: 20K1-035.73, số khung RLHJA3925PY403507, số máy JA39E3001220, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Hà Văn H2.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N đã bồi thường cho anh Ngô Minh Đ2 100.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Thành L1 10.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Hoài N1 20.000.000 đồng. Anh Đ2, L1, N1 đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu, đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 193/CT-VKSTPTN ngày 12/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đã truy tố Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn H2, Đặng Gia K, Nông Duy M từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
    2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Đ, Phạm Quang H3, Đặng Nhật N từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho anh Ngô Minh Đ2 100.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Thành L1 10.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Hoài N1 20.000.000 đồng.
  4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Phạm Quang H3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 20B2-498.31, số khung RLHJA3922MY456970, số máy JA39E2482199, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Phạm Quang H3; Trả lại cho bị cáo Hà Văn H2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu trắng, BKS: 20K1-035.73, số khung RLHJA3925PY403507, số máy JA39E3001220, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Hà Văn H2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H3, H2.
  5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo xác định do các bị hại có thái độ thách thức nên đã đuổi theo nhằm mục đích để đánh nhóm của anh Đ2. Nguyễn Thế Đ, Phạm Quang H3, Đặng Nhật N xác định là người điều khiển xe mô tô chở K1, K, V2 đuổi đánh nhóm của anh Đ2. Khi thấy anh Đ2, anh L1, anh N ngã xuống ruộng H2, K đã lao xuống để đánh nên Đ, H3, N không lao vào đánh nữa, không can ngăn, nếu nhóm của anh Đ2 đánh lại nhóm của mình thì Đ, H3, N sẽ lao vào đánh.

Trong phần tranh luận các bị cáo nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát. Việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.

  1. Luật sư Mạc Thị H4 – Bào chữa cho các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ xác định: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhất thời phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường cho các gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cho bị cáo H2, Đ được cải tạo tại địa phương.
  2. Luật sư Vũ Văn S – Bào chữa cho các bị cáo Nông Duy M, Đặng Nhật N, xác định: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bồng bột, nhất thời phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tác động để gia đình bồi thường cho các bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo M, N được hưởng mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
  3. Trợ giúp viên pháp lý Khuông Thanh Đ1 – Bào chữa cho bị cáo Đặng Gia K, Phạm Quang H3 xác định: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhất thời phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động để gia đình bồi thường cho các bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và mức đề nghị hình phạt đối với các bị cáo, trên cơ sở đã xem xét tất cả các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất để phấn đấu cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 31/12/2023, tại tổ dân phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là thắt lưng để đánh, dùng đá ném gây thương tích cho anh Ngô Minh Đ2, anh Nguyễn Hoài N1, anh Nguyễn Thành L1, khiến anh Đ2 bị tổn thương cơ thể 19%, anh N1 bị tổn thương cơ thể 9%, anh L1 bị tổn thương cơ thể 2%. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
    1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

      a, D1 ....hung khí nguy hiểm...;

      c, Đối với người dưới 16 tuổi....;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm;

      đ, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm tư điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

  3. [3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. [4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây tổn hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội các bị cáo cho rằng các bị hại có hành vi nhìn đểu, có thái độ thách thức nên đã đuổi theo để đánh các bị hại.
  5. [5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự phân công hay cấu kết chặt chẽ nên không có yếu tố phạm tội có tổ chức; bị cáo Hà Văn H2, Nông Duy M, Đặng Gia K là người trực tiếp thực hiện tội phạm; các bị cáo Nguyễn Thế Đ, Phạm Quang H3, Đặng Nhật N tham gia với vai trò là người giúp sức. Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng năng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
  6. [6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường cho các bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra thật sự ăn năn, hối cải. Do vậy, tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Đặng Gia K có bà ngoại Ngô Thị D2 tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương, bị cáo Nguyễn Thế Đ có ông nội Nguyễn Văn T6 tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huy chương, bị cáo Nông Duy M có ông nội là ông Nông Quang B2 tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương do vậy các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
  7. [7] Về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đều là người dưới 18 tuổi nhận thức pháp luật còn hạn chế, bồng bột, nhất thời phạm tội. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Xét thấy cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, tạo điều kiện để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với chưa thành niên phạm tội.

    Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội cả 6 bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi, do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

    Các bị cáo Hà Văn H2, Nông Duy M, Đặng Gia K là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

  8. [8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm là phù hợp, có căn cứ.
  9. [9] Đề nghị của các Luật sư và người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét theo quy định của pháp luật.
  10. [10] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh Đ2 100.000.000 đồng, anh Nguyễn Thành L1 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Hoài N1 20.000.000 đồng. Anh Đ2, anh L1, anh N1 đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  11. [11] Về vật chứng vụ án:

    Đối với xe mô nhãn hiệu Honda-Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 20B2-498.31, số khung RLHJA3922MY456970, số máy JA39E2482199, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Phạm Quang H3 và xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu trắng, BKS: 20K1-035.73, số khung RLHJA3925PY403507, số máy JA39E3001220, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Hà Văn H2, xác định đây là xe mô tô do gia đình mua cho H3, H2 để sử dụng làm phương tiện đi học, đi làm khi đã đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông, nhưng do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên H3, H2 đã tự ý sử dụng mà không được sự cho phép của gia đình. Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của các bị cáo là bố mẹ đẻ của bị cáo H2, H3 đề nghị được trả lại để quản lý, sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo H3, H2 đều là người dưới 18 tuổi cần trả lại xe cho các bị cáo để làm phương tiện đi học, đi làm khi đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo H3, H2.

  12. [12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  13. [13] Các hành vi khác liên quan đến vụ án:

    Đối với hành vi của Đặng Gia K1 và Đặng Hoàng V2 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội K1 và V2 chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 20/4/2024 Công an thành phố T đã chuyển hồ sơ đến chính quyền địa phương nơi K1, V2 cư trú đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với K1 và V2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Đối với anh Đặng Minh H7 là anh trai ruột của Đặng Hoàng V2 và ông Đặng Văn T4 là bố đẻ của Đặng Gia K1, quá trình điều tra xác định anh H7, ông T4 là chủ sở hữu hợp pháp không biết V2, K1 tự ý sử dụng xe mô tô của mình để phạm tội nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với anh H7 và ông T4 là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Quá trình điều tra xác định khi nhóm của Hà Văn H2 đuổi đánh anh Đ2, anh L1, anh N1, nhóm của H2 không ai hô hoán, chửi bới, hò hét hay gây ra tiếng động lớn; đoạn đường nơi xảy ra sự việc là đường mới, không có nhà dân sinh sống, thời gian xảy ra sự việc vào buổi đêm không có người và phương tiện qua lại, do vậy Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Hà Văn H2, Nông Duy M, Đặng Gia K mỗi bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Phạm Quang H3, Nguyễn Thế Đ, Đặng Nhật N mỗi bị cáo 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Phạm Quang H3: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 20B2-498.31, số khung RLHJA3922MY456970, số máy JA39E2482199, loại xe: hai bánh từ 50 – 175cm³, dung tích xi lanh 109,1cm³, đã qua sử dụng của Phạm Quang H3. Xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật.

    Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Hà Văn H2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số lo ại: Wave, màu trắng bạc, BKS: 20K1-035.73, số khung RLHJA3925PY403507, số máy JA39E3001228, loại xe: hai bánh từ 50 – 175cm³, dung tích xi lanh 109,1cm³, đã qua sử dụng của Hà Văn H2. Xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật.

    Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 224 ngày 29/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Hà Văn H2, Nguyễn Thế Đ, Đặng Gia K, Phạm Quang H3, Nông Duy M, Đặng Nhật N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, các bị hại, người đại diện theo pháp luật của các bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Nguyễn Minh H8) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt Bản án, hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 211/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger