Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 211/2024/DS-PT

Ngày: 25-4-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng.

Ông Đặng Văn Những.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 28 tháng 3 và ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm: 1950.

    Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số C ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 4 năm 2023).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. Văn phòng C.

    2. Bà Đào Thị Kim O, sinh năm 1970.

      Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà O: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp B xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 6 năm 2023).

    3. Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1962.

      Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N.

(Ông T, bà N có mặt;

Các đương sự còn lại có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2023, ngày 26/4/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/8/2023 và trong quá trình giải quyết, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyên Văn T trình bày:

Vào năm 2019 do chồng bà L bị bệnh hiểm nghèo nên bà L nhiều lần vay tiền của bà Nguyễn Thị N. Do nhu cầu quá khẩn cấp nên bà L không yêu cầu bà N làm hợp đồng vay tiền mà hai bên chỉ thỏa thuận miệng. Sau khi chồng bà L chết một thời gian bà N mới đòi tiền. Đầu năm 2020 bà L vẫn chưa có tiền trả cho bà N nên bà N buộc bà L ký giấy cam kết sau 3 năm bà L sẽ trả cho bà N số tiền cả vốn lẫn lãi là 670.000.000 đồng với điều kiện là bà L phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m2, đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An. Như vậy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m2, đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An thực sự chỉ là giao dịch giả tạo nhằm che đậy việc bà L thiếu nợ bà Nguyễn Thị N số tiền cả vốn và lãi tính đến tháng 03/2023 là 670.000.000 đồng.

Mặt khác trên đất đã có căn nhà tình thương của Đào Thị Kim O sinh năm 1970. Căn nhà do nhà nước cấp cho Đào Thị Kim O thuộc đối tượng hộ nghèo. Bà O là con của bà L nên bà L cho bà O phần đất trên thửa số 669, tờ bản đồ số 8 để bà O làm nhà ở, do mẹ con nên khi cho chỉ viết giấy tay không có làm hợp đồng công chứng chứng thực. Bà L chỉ yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L và bà N, trường hợp bà N có yêu cầu thanh toán tiền thì bà L có ý kiến sau.

Theo yêu cầu phản tố của bà N thì ông T là người đại diện theo ủy quyền của bà L đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị N và bà Dương Thị L được Văn phòng C công chứng ngày 14/02/2020 đối với thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m², đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An, bà L trả cho bà N 670.000.000 đồng, không đồng ý tính lãi vì trong cam kết các bên không có thỏa thuận lãi.

Đầu tháng 02/2023 bà L mang tiền đến trả cho bà N theo giấy cam kết nhưng bà N không nhận tiền mà buộc bà L giao đất nên bà N nộp đơn khởi kiện.

Ông T là người đại diện theo ủy quyền của bà L yêu cầu Tòa án giải quyết: tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị N và bà Dương Thị L được Văn phòng C công chứng ngày 14/02/2020 do giả tạo nhằm che đậy một giao dịch khác và có đối tượng không thể thực hiện được. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 172233 vào sổ cấp giấy chứng nhận CS04628 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 13/3/2020.

Tại bản tự khai ngày 12/6/2023, ngày 21/9/2023, đơn phản tố ngày 26/6/2023 và trong quá trình giải quyết bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Nguyên vào ngày 15/01/2019, bà Dương Thị L hỏi mượn bà N số tiền 680.000.000 đồng. Bà L nói đem về để lo cho con trai bà làm môi giới đưa khách đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc, bà N thương tình giúp đỡ cho bà L, các bên thỏa thuân thời hạn một tháng bà L phải trả lại hoàn tất cho bà N. Bà L đồng ý và có đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 188470 do UBND huyện T cấp ngày 16/01/2007, thửa đất số 499, tờ bản đồ số 8, diện tích 80m², loại đất ở tại nông thôn đưa cho bà N cất giữ để làm tin. Bà L tự viết giấy mượn tiền và bà có ghi câu “...Tôi trả tiền hoàn tất thì bà N sẽ trả giấy chứng nhận. Nếu tôi làm sai thì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Đến thời gian trả nợ, bà L không trả tiền cho bà N, bà L nói đưa tiền cho con bà L làm ăn, bị người ta gạt mất tiền nên không có tiền hoàn trả cho bà N. Trong quá trình thỏa thuận Thi hành án thì bà N đã giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 188470 do UBND huyện T cấp ngày 16/01/2007, thửa đất số 499, tờ bản đồ số 8, diện tích 80m² cho bà L và bà L mới tiến hành thỏa thuận giao thửa 669.

Khoảng tháng 4/2019, bà N làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa yêu cầu bà L hoàn trả cho bà N 680.000.000 đồng. Ngày 24/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử tại Bản án số 53/2019/DS-ST ngày 24/7/2019 đã quyết định: Buộc bà Dương Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N tổng cộng 680.000.000 đồng tiền vốn vay.

- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà N làm đơn yêu cầu thi hành án đối với Bản án số 53/2019/DS-ST ngày 24/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa. Ngày 09/10/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa ra Quyết định thi hành án số 65/QĐ.THA.

- Ngày 25/11/2019, cơ quan Thi hành án huyện T mời bà N và bà L đến trụ sở làm việc và lập biên bản: Bà L có trả cho bà N 10.000.000 đồng, còn 670.000.000 đồng và bà L còn phải chịu lãi chậm thi hành án theo qui định của pháp luật và bà L còn cam kết, đến ngày 30/12/2019, bà L bán thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.000m², loại đất cây hàng năm để hoàn trả nợ cho bà N. Nhưng bà L không bán được đất.

Ngày 14/02/2020, cơ quan Thi hành án dân sự huyện T mời bà N và bà L đến trụ sở để làm việc, Chấp hành viên Nguyễn Thanh L1 trao đổi với bà N là bà L đồng ý bán thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.000m², loại cây hằng năm cho bà N để khấu trừ số tiền 670.000.000 đồng cho xong để hạn chế chi phí kê biên tài sản. Bà N đồng ý mua thửa đất trên và Chấp hành viên lập biên bản thỏa thuận mua bán đất. Theo biên bản làm việc, thì bà Dương Thị L trình bày: “Theo nội dung Quyết định thi hành án thì bà L còn phải có nghĩa vụ tiếp tục hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N 670.000.000 đồng và phần lãi suất chậm thi hành án. Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi không có thu nhập ổn định nên bà L chưa có tiền hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N. Để hạn chế chi phí phát sinh trong việc kê biên xử lý tài sản, nên bà L tự nguyện giao cho bà Nguyễn Thị N 1.000 m² đất thuộc thửa số 669, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây hàng năm khác do bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để khấu trừ số tiền phải thi hành án là 200.000.000 đồng. Việc giao nhận đất do bà L và bà N tự thực hiện bên ngoài, tự liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo quy định và bà L với bà N đã thực hiện xong việc giao nhận quyền sử dụng đất và hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Đối với số tiền phải thi hành án còn lại là 470.000.000 đồng và phần lãi suất chậm thi hành án thì đề nghị bà N từ bỏ, rút đơn, không yêu cầu bà L phải tiếp tục trả".

Sau khi làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1; bà L năng nỉ bà N từ ngày 14/02/2020, trong thời gian 3 năm, con bà L có khả năng chuộc lại, xin bà N thương tình cho chuộc lại. Bà N đồng ý thỏa thuận cho bà L chuộc lại đất bằng số tiền gốc là 670.000.000 đồng. Bà N và L có lập văn bản Cam kết. Nhưng đến nay đã hơn 3 năm bà L không thực hiện chuộc đất lại như đã cam kết; nay bà L không còn quyền gì trên thửa đất 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1000 m², loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

Nay bà L khởi kiện bà N ra Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa yêu cầu Tòa án vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với bà N. Bà N không đồng ý theo đơn khởi kiện của bà L. Bởi vì bà N mua thửa đất của bà L trên cơ sở bà L thỏa thuận bán cho bà N thông qua cơ quan Thi hành án huyện T chủ trì giải quyết việc thỏa thuận này. Nếu bà N không đồng ý mua thì cơ quan thi hành án tiến hành kê biên tài sản và đưa ra bán đấu giá thu hồi tiền hoàn trả cho bà N; mọi chi phí thủ tục kê biên, bán đấu giá bà L phải chịu hết. Cơ quan thi hành án huyện T tạo điều kiện cho bà L hạn chế chi phí phát sinh trong việc kê biên xử tài sản nên mới động viên bà N mua lại thửa đất của bà L. Trong đơn bà L viết “Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1000 m², đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An thực sự chỉ là giao dịch giả tạo nhằm che đậy việc bà L thiếu nợ bà Nguyễn Thị N số tiền cả vốn và lãi tính đến tháng 03/2023 là 670.000.000 đồng”. Đơn của bà L ghi như trên hoàn toàn không đúng sự thật.

Từ khi bà N nhận chuyển nhượng đất của bà L thì bà N chưa nhận đất để sử dụng. Bà L và bà N có thỏa thuận khi ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 14/02/2020 nhưng cho trong thời hạn 03 năm bà N cho bà L chuộc lại đất với giá gốc là 670.000.000 đồng nên trong thời hạn này bà N vẫn để nhà và đất cho bà L sử dụng bà N không có yêu cầu bà L giao đất. Sau khi hết thời gian thỏa thuận chuộc lại đất bà L không có nói gì với bà N nên bà N có đi gặp bà L hỏi đã hết thời gian chuộc lại đất thì bà L nói chưa có tiền, thời gian này bà L chịu tiền lãi nhưng bà N không đồng ý mà yêu cầu bà L giao đất để bà N bán thu hồi vốn, bà N có dặn bà L bà N đã rao bán đất nếu có ai đến xem đất thì bà L cho xem. Sau đó bà L có gọi bà N hỏi nếu chuộc lại đất thì tính như thế nào thì bà N nói đã hết thời gian thỏa thuận nên nay nếu bà L có nguyện vọng chuộc lại đất thì bà N cũng cho chuộc nhưng chuộc với giá gốc 670.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 26/9/2019 theo lãi suất 0.83%/tháng, lúc đó con bà L có tính ra số tiền rồi bà L không có ý kiến gì và sau đó nộp đơn khởi kiện bà N.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị N và bà Dương Thị L được Văn phòng C công chứng ngày 14/02/2020 đối với thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m², đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An.

Vô hiệu việc tặng cho (cho miệng) QSDĐ giữa bà Dương Thị L với bà Đào Thị Kim O đối với phần diện tích đất khoảng 500m² thuộc thửa đất 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An do vi phạm về mặt hình thức là không lập hợp đồng tặng cho được công chứng chứng thực, diện tích đất không đủ tách thửa và sử dụng đất sai mục đích.

Buộc bà Đào Thị Kim O phải tháo dỡ nhà và các công trình trên đất thửa 669 để trả lại hiện trạng đất trống cho bà N canh tác sản xuất đúng mục đích sử dụng của thửa đất 669.

Buộc bà Dương Thị L và bà Đào Thị Kim O phải giao trả thửa đất 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m², đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị N.

Trường hợp Tòa án vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sửu dụng đất thì bà N yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả như sau: Buộc bà L phải trả lại số tiền bà L phải thi hành án theo bản án số 53/2019/DS-ST ngày 24/7/2019 là 670.000.000 đồng. Bà L phải trả lãi chậm thi hành án kể từ ngày 26/9/2019 (bản án số 53 có hiệu lực) đến ngày làm đơn và tiếp tục tính đến ngày xét xử theo lãi suất 0.83%/tháng. Cụ thể số tiền lãi yêu cầu trả tạm tính là 45 tháng x 0,83% x 670.000.000 đồng là 250.245.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà Dương Thị L phải trả là 920.245.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 trình bày: Ông thống nhất phần trình bày của bà N, không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị Kim O do ông Nguyễn Hữu T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà O là con của bà L phần đất hiện bà L và bà N tranh chấp thì trên phần đất này có căn nhà của bà O. Năm 2011 bà L tặng cho bà O phần đất thuộc thửa số 669, tờ bản đồ số 8 với chiều dài 7.5m², dài hết đất, tổng diện tích khoảng 500m². Sau đó bà O được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương có một số tiền, sau đó xây căn nhà cấp 4 với chiều ngang 4m, dài khoảng 11m, kết cấu tường ghạch, nền gạch, cột bê tông. Việc bà L vay tiền của bà N sau đó có làm hợp đồng chuyển nhượng phần đất bà O đang sử dụng nhưng bà O không biết, nay bà L yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng với thửa đất 669 thì bà O đồng ý. Việc bà L tặng cho phần đất mà bà O xây nhà có viết giấy tay và không có hợp đồng công chứng chứng thực. Ngày 25/8/2023 bà Đào Thị Kim O có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là “giấy cho đất” được lập ngày 12/5/2011 của bà Dương Thị Lệ t cho bà Đào Thị Kim O đối với phần đất diện tích 500 m² thuộc một phần thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An và bà Đào Thị Kim O được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần diện tích đất nêu trên. Ngày 17/9/2023 bà Đào Thị Kim O có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập do bà O không có tiền nộp tạm ứng chi phí tố tụng, bà O rút đơn hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày:

Ngày 14/02/2020 bà Dương Thị L với bà Nguyễn Thị N đến Văn phòng C yêu cầu Văn phòng Công chứng chứng nhận một hợp đồng chuyển nhượng, giấy tờ do hai bên cung cấp gồm: 02 chứng minh nhân dân, 02 sổ hộ khẩu, 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 văn bản phân chia di sản thừa kế. Qua kiểm tra các giấy tờ đều hợp lệ, cùng sự thỏa thuận của các bên về giá chuyển nhượng, nghĩa vụ nộp thuế và các loại phí, lệ phí đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Dương Thị L với bà Nguyễn Thị N, nội dung chủ yếu của hợp đồng như sau: bên chuyển nhượng là bà Dương Thị L, bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị N. Hai bên đồng ý thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 669, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp C xã T, huyện T, tỉnh Long An, diện tích 1000 m², giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng. Văn phòng Công chứng tiến hành soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng, các bên đã tự đọc lại dự thảo hợp đồng, trong quá trình làm việc trao đổi, được biết bà Dương Thị L đang phải thi hành án nên Văn phòng Công chứng yêu cầu giải quyết xong mới chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng. Các bên đã đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa để giải quyết việc thi hành án, sau khi có biên bản về việc giải quyết thi hành án, được công chứng viên giải thích quyền và nghĩa vụ các bên, các bên đều công nhận hiểu rõ nội dung và nội dung trong hợp đồng đúng với yêu cầu của hai bên và hai bên đã ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước sự chứng kiến của công chứng viên. Hợp đồng này được công chứng viên ký chứng nhận và xuất ngay sau đó có số công chứng 813 quyển 01/2020 TP/CC-SCC/HDGD. Do đó việc Văn phòng C chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là phù hợp qui định pháp luật, Tòa án xem xét và quyết định theo thẩm quyền.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 500 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

    Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An giữa bà Dương Thị L ký kết với bà Nguyễn Thị N do Văn phòng C công chứng ngày 14/02/2020 số công chứng 813, quyển số 01/2020 TP/CC-SCC/HDGD.

    Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản đối với diện tích đất được xác định theo qui định của khoản 3 Điều 100, khoản 2 Điều 170 Luật Đất đai 2013.

    Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N.

    Buộc bà Dương Thị L trả cho bà Nguyễn Thị N 670.000.000 đồng và 49.864.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 719.864.000 đồng.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Kim O.

  4. Về lệ phí đo đạc, thẩm định và thẩm định giá: bà Dương Thị Lệ ứ nộp 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ, bà L tự nguyện chịu và đã nộp xong

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Dương Thị L không phải chịu án phí.

    Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 10.019.000 đồng án phí đối với phần yêu cầu tiền lãi bà N không được chấp nhận, khấu trừ 19.804.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N nộp ngày 26/6/2023 theo biên lai thu số 0001054 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An sang án phí, cho bà N được hoàn trả số tiền chênh lệch là 9.785.000 đồng.

    Bà Đào Thị Kim O không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Đào Thị Kim O 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001170 ngày 28/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 02/12/2023, bà Dương Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà N.

Ngày 13/12/2023, bà Nguyễn Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà N.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn T trình bày: Việc bà L chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, mục đích sử dụng HNK, diện tích 1.000 m², đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Long An cho bà N thực sự chỉ là giao dịch giả tạo nhằm che đậy việc bà L thiếu nợ bà Nguyễn Thị N số tiền cả vốn và lãi tính đến tháng 03/2023 là 670.000.000 đồng. Mặt khác trên đất đã có căn nhà tình thương của Đào Thị Kim O. Căn nhà do nhà nước cấp cho bà Đào Thị Kim O thuộc đối tượng hộ nghèo nên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L và bà N vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được. Bà L đồng ý trả cho bà N 670.000.000 đồng, không đồng ý tính lãi vì trong cam kết các bên không có thỏa thuận lãi.

Bà Nguyễn Thị N trình bày: Theo bản bản án số 53/2019/DS-ST thì bà L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 680.000.000 đồng. Sau đó giữa bà và bà L thỏa thuận thi hành án. Ngày 14/02/2020 Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa lập biên bản về việc giải quyết việc thi hành án giữa bà L với bà N. Do bà L có hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi, không có thu nhập ổn định nên chưa có tiền để trả cho bà N. Để hạn chế chi phí phát sinh trong việc kê biên xử lý tài sản nên bà L tự nguyện giao cho bà N thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An do bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để khấu trừ số tiền phải thi hành án. Hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 669 và hai bên lập tờ cam kết thỏa thuận bà N được quyền sử dụng đất trong thời hạn 03 năm đến tháng 3/2023 được quyền chuộc lại với số tiền 670.000.000 đồng. Trường hợp Tòa án vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa bà và bà L thì bà L phải trả cho bà số tiền 670.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày bản án dân sự sơ thẩm năm 2019 có hiệu lực pháp luật từ ngày 26/9/2019. Bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Bà Dương Thị L kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà Nguyễn Thị N.

- Bà Nguyễn Thị N kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Xét kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N thấy rằng:

Các bên đương sự thừa nhận, ngày 14/02/2020, bà Dương Thị L và bà Nguyễn Thị N có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.000m², tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Long An và được Văn phòng C.

Cùng ngày, giữa bà L và bà N có ký giấy cam kết, sau thời hạn 03 năm (đến ngày 01/3/2023) bà L có trách nhiệm trả đủ cho bà N số tiền là 670.000.000 đồng thì bà N có nghĩa vụ sang tên thửa đất nêu trên cho bà L. Nếu sau tháng 3/2023 bà L không đủ khả năng trả số tiền 670.000.000 đồng thì bà N có quyền sử dụng và bán thửa đất nêu trên cho người khác.

Ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày do bà L vay tiền của bà N, cả vốn và lãi là 670.000.000 đồng nên mới ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N nhưng không đưa ra được có chứng cứ chứng minh.

Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 14/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa thể hiện: “... Theo quyết định thi hành án thì bà L có nghĩa vụ trả cho bà N 670.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Hiện bà L có hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi, không có thu nhập ổn định nên chưa có tiền để trả cho bà N. Để hạn chế chi phí phát sinh trong việc kê biên xử lý tài sản nên bà L tự nguyện giao cho bà N thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An do bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để khấu trừ số tiền phải thi hành án là 200.000.000 đồng. Việc giao nhận đất do bà L và bà N tự giao nhận bên ngoài, tự liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo quy định. Số tiền còn phải thi hành án là 470.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án thì bà N không yêu cầu, rút đơn yêu cầu thi hành án và nộp phí thi hành án 2% đối với số tiền 200.000.000 đồng và đồng ý nhận đất...“

Và tại bảng tự tường trình nội dung vụ việc của Văn phòng C cũng thể hiện: “...Các bên đã đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa để giải quyết việc thi hành án, sau khi có biên bản về việc giải quyết thi hành án, được công chứng viên giải thích quyền và nghĩa vụ các bên, các bên đều công nhận hiểu rõ nội dung và nội dung trong hợp đồng đúng với yêu cầu của hai bên và hai bên đã ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước sự chứng kiến của công chứng viên...”

Do đó có cơ sở xác định, giữa bà Dương Thị L và Nguyễn Thị N ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua việc thi hành án.

Tuy nhiên, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thể hiện: trên thửa đất tranh chấp có căn nhà cấp 4 của bà Đào Thị Kim O được xây dựng năm 2013. Khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và bà N không có thỏa thuận gì đối với tài sản gắn liền với đất. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với bà N bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 BLDS. Do đó Tòa án sơ thẩm vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Dương Thị L và Nguyễn Thị N là có cơ sở.

(Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thể hiện: trên thửa đất tranh chấp có căn nhà cấp 4 của bà Đào Thị Kim O được xây dựng năm 2013. Hiện nhà có 02 người sinh sống là bà Đào Thị Kim O và Đào Ngọc Á, sinh năm 2002 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ông Á có đăng ký thường trú tại địa chỉ nêu trên không để đưa vào làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Xét thấy, trong vụ án này, không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án).

Xét yêu cầu trả lãi trong trường hợp vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng:

Giấy cam kết ngày 14/02/2020 chỉ thỏa thuận đến thời hạn (tức là ngày 01/3/2023) bà L trả cho bà N 670.000.000 đồng thì bà N làm thủ tục chuyển đất lại cho bà L, không thỏa thuận trả lãi. Do đó, việc bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 26/9/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là không có cơ sở. Tuy nhiên đến thời hạn, bà L vẫn không trả tiền cho N. Bà L cho rằng đến tháng 2/2023 bà L có đem tiền đến trả cho bà N nhưng bà N không nhận, lời trình bày của bà L không được bà N thừa nhận, bà L cũng không có chứng cứ chứng minh. Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi trên số tiền phải trả từ ngày 01/3/2023 đến ngày xét xử là phù hợp.

Bà Dương Thị L, Nguyễn Thị N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C, ông Nguyễn Hữu T1, ông Lê Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

  3. [3] Xét kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N, thấy rằng:

    1. [3.1] Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2019/DS-ST ngày 24/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã quyết định: Buộc bà Dương Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 680.000.000 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà N làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 09/10/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa ra Quyết định thi hành án số 65/QĐ.THA. Trong quá trình thi hành án, ngày 25/11/2019, bà L có trả cho bà N 10.000.000 đồng, còn 670.000.000 đồng và bà L còn phải chịu lãi chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.

    2. [3.2] Ngày 14/02/2020, các bên thỏa thuận thi hành án, bà L đồng ý chuyển nhượng cho bà N thửa đất số 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.000m², loại cây hằng năm để trừ số tiền nợ 670.000.000 đồng.

      Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 14/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa thể hiện: “... Theo quyết định thi hành án thì bà L có nghĩa vụ trả cho bà N 670.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Hiện bà L có hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi, không có thu nhập ổn định nên chưa có tiền để trả cho bà N. Để hạn chế chi phí phát sinh trong việc kê biên xử lý tài sản nên bà L tự nguyện giao cho bà N thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An do bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để khấu trừ số tiền phải thi hành án là 200.000.000 đồng. Việc giao nhận đất do bà L và bà N tự giao nhận bên ngoài, tự liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo quy định. Số tiền còn phải thi hành án là 470.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hành án thì bà N không yêu cầu, rút đơn yêu cầu thi hành án và nộp phí thi hành án 2% đối với số tiền 200.000.000 đồng và đồng ý nhận đất... ”.

      Việc giao nhận đất do bà L và bà N tự thực hiện bên ngoài, tự liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo quy định và bà L với bà N đã thực hiện xong việc giao nhận quyền sử dụng đất và hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Đối với số tiền phải thi hành án còn lại là 470.000.000 đồng và phần lãi suất chậm thi hành án thì đề nghị bà N rút đơn không yêu cầu bà L phải tiếp tục trả. Ngày 19/02/2020, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa ra Quyết định số 27/QĐ-CCTHADS về việc đình chỉ thi hành án số đối với bà Dương Thị L.

    3. [3.3] Tại công văn số 373/CV.CCTHADS ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xác nhận:

      Do các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận nhận tài sản bên ngoài để khấu trừ tiền thi hành án và đã tự thực hiện xong nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ thừa lập biên bản ghi nhận theo quy định. Tại biên bản ghi nhận các bên đương sự không trình bày là có tài sản trên đất. Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế nên không tiến hành xem xét thẩm định, định giá đối với thửa đât sô 669, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây hàng năm khác. Do bà Nguyễn Thị N tự nguyện rút đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền 470.000.000 đồng và phần lãi suất chậm thi hành nên căn cứ Điều 50 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 Chi cục thi hành án dân sự huyện T ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định, bà Nguyễn Thị N không được quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trở lại đối với khoản đình chỉ nêu trên.

    4. [3.4] Theo thỏa thuận, ngày 14/02/2020 bà Dương Thị L và bà Nguyễn Thị N đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 669, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.000m², tọa lạc tại ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Long An và được Văn phòng C.

      Sau khi làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C1 thì hai bên lập tờ cam kết có thỏa thuận trong thời gian 3 năm bà L chuộc lại đất bằng số tiền gốc là 670.000.000 đồng. Bà N và bà L có lập giấy cam kết.

    5. [3.5] Căn cứ theo giấy cam kết ngày 14/2/2020 hai bên thỏa thuận có nội dung: “Chúng tôi có ký kết các hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 669; tờ bản đồ số 8; diện tích 1000 m² tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Thửa đất sang tên nêu trên xem như bà L thế chấp Giấy CNQSD đất cho bà N trong thời gian là 03 năm. Sau 03 năm (đến tháng 03/2023) bà L có trách nhiệm trả đủ số tiền là 670.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi triệu đồng) cho bà N thì bà N phải có nghĩa vụ sang tên thửa đất nêu trên lại cho bà L theo đúng thỏa thuận của 2 bên. Trong thời gian 03 năm (đến tháng 03/2023) bà N không được canh tác trên thửa đất nêu trên. Bà L có quyền sở hữu, canh tác thửa đất nêu trên và trong thời gian này bà L có quyền bán thửa đất nêu trên thì bà N phải ký giấy cho bà L mua bán (khi bà L bán đất thì phải trả đủ số tiền 670.000.000 đồng cho bà N). Nếu sau tháng 03/2023 bà L không đủ khả năng trả số tiền 670.000.000 đồng thì bà N có quyền sử dụng và sang bán thửa đất nêu trên cho người khác ...”.

    6. [3.6] Tuy nhiên, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thể hiện: Trên thửa đất tranh chấp có căn nhà cấp 4 của bà Đào Thị Kim O được xây dựng năm 2013. Khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L và bà N không có thỏa thuận gì đối với tài sản gắn liền với đất và không có ý kiến của bà O. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với bà N bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự. Do đó Tòa án sơ thẩm vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Dương Thị L và Nguyễn Thị N là có cơ sở.

      Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thể hiện: Trên thửa đất tranh chấp có căn nhà cấp 4 của bà Đào Thị Kim O được xây dựng năm 2013. Hiện nhà có 02 người sinh sống là bà Đào Thị Kim O và Đào Ngọc Á, sinh năm 2002 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ông Á có mối quan hệ như thế nào với bà O, có đăng ký thường trú tại địa chỉ nêu trên không để đưa vào làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, trong vụ án này, việc không đưa ông Á tham gia tố tụng cũng không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án.

  4. [4] Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

    Bà N yêu cầu tính lãi từ ngày bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực là từ 26/9/2019 đến ngày bà L trả xong tiền cho bà N. Bà L không đồng ý trả lãi.

    Căn cứ theo Giấy cam kết ngày 14/02/2020, bà L và bà N thỏa thuận trong thời hạn 03 năm, đến tháng 3 năm 2023 bà L trả cho bà N 670.000.000 đồng thì bà N làm thủ tục chuyển đất lại cho bà L, không thỏa thuận trả lãi. Do đó, việc bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 26/9/2019 đến ngày bà L trả xong số tiền còn nợ 670.000.000 đồng là không có cơ sở.

    Bà L không đồng ý trả lãi vì bà L cho rằng đến tháng 2/2023 bà L có đem tiền đến trả cho bà N nhưng bà N không nhận, lời trình bày của bà L không được bà N thừa nhận và bà L cũng không có chứng cứ chứng minh nên Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi trên số tiền bà L phải trả từ ngày 01/3/2023 đến ngày xét xử, với số tiền 670.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 8 tháng 29 ngày = 49.864.000 đồng là phù hợp.

  5. [5] Đối với yêu cầu độc lập của bà Đào Thị Kim O: Ngày 25/8/2023 bà O có đơn yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là “giấy cho đất” được lập ngày 12/5/2011 giữa bà Dương Thị Lệ t cho bà Đào Thị Kim O đối với phần đất diện tích 500 m² thuộc một phần thửa 669, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An và bà Đào Thị Kim O được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với phần diện tích đất nêu trên. Ngày 17/9/2023 bà O có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Đào Thị Kim O là có căn cứ.

  6. [6] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị L và bà Nguyễn Thị N.

    Tuy nhiên tại phần quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án là thiếu sót, nên bổ sung phần này.

  7. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  8. [8] Về chi phí xem xét thẩm định ở Tòa án cấp sơ thẩm: Bà Dương Thị Lệ ứ nộp 2.000.000 đồng, bà L tự nguyện chịu và đã nộp xong.

  9. [9] Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà N, tuy nhiên bà L là người cao tuổi nên được miễn án phí.

    Bà Nguyễn Thị N yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu này của bà N không được Tòa án chấp nhận nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 10.019.000 đồng (đối với số tiền lãi không được chấp nhận) là chưa phù hợp với theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 /12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bà N chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

  10. [10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Dương Thị L án phí dân sự phúc thẩm. Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị N không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị N.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 131, 408, 500 Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L đối với bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

    1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An giữa bà Dương Thị L ký kết với bà Nguyễn Thị N do Văn phòng C công chứng ngày 14/02/2020 số công chứng 813, quyển số 01/2020 TP/CC-SCC/HDGD.

      Bà Dương Thị L có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 669, diện tích 1000 m², loại đất HNK, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

      Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

    2. Buộc bà Dương Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 670.000.000 đồng và 49.864.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 719.864.000 đồng (Bảy trăm mười chín triệu, tám trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bột luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa bà L và bà N có hiệu lực.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Kim O về yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là “giấy cho đất” được lập ngày 12/5/2011 giữa bà Dương Thị Lệ t cho bà Đào Thị Kim O đối với phần đất diện tích 500 m² thuộc một phần thửa 669 ờ bản đồ số 8, đất tọa lạc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

  4. Về lệ phí đo đạc, thẩm định và thẩm định giá: 2.000.000 đồng bà Dương Thị L tự nguyện chịu và đã nộp xong.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn bà Dương Thị L án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà N nộp 19.804.000 đồng theo biên lai thu số 0001054 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí còn dư là 19.304.000 đồng.

    Bà Đào Thị Kim O không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Đào Thị Kim O 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001170 ngày 28/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Miễn cho bà Dương Thị L án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008036 ngày 13/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 211/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger