|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 211/2024/HS-ST Ngày 24-09-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 774/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt H, sinh ngày 20 tháng 09 năm 1956 tại Hải Phòng; đăng ký nhân khẩu thường trú: Số A L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A N, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn An L (đã chết) và bà Đào Thị T (đã chết); có vợ là Quách Thị S (đã chết); tiền án: Tại bản án số 18/HSST ngày 15/4/2004 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 12/11/2006, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm - chưa được xóa án tích), tiền sự: Không; nhân thân: Có 06 tiền án đều đã được xoá án tích: Tại Bản án số 19 ngày 21/01/1978, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (đã được xoá); Tại bản án số 182/HSST ngày 30/11/1985, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã được xoá); Tại Bản án số 51 ngày 09/4/1988 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (đã được xoá); Tại Bản án số 60/HSST ngày 05/3/1990 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tài sản của công dân; 09 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam giữ. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 51 ngày 09/4/1988 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, Hải Phòng, buộc phải chấp hành 63 tháng tù (đã được xoá); Tại Bản án số 142/HSST ngày 23/4/1990 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tổng hợp hình phạt với ản án số 60/HSST ngày 05/3/1990 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc phải chấp hành 10 năm 03 tháng tù. Bản án phúc thẩm số 13 ngày 08/01/1991 của Tòa án nhân dân Tối cao giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm số 142/HSST ngày 23/4/1990 (đã được xoá); Tại Bản án số 386/HS-ST ngày 07/10/1992 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 13 ngày 08/01/1991 của Tòa án nhân dân Tối cao, buộc phải chấp hành 11 năm 01 tháng 26 ngày tù. Bản án phúc thẩm số 483/HSPT ngày 28/11/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, sửa Bản án số 386/HS-ST ngày 07/10/1992 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xử phạt 16 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 13 ngày 08/01/1991 của Tòa án nhân dân Tối cao, buộc phải chấp hành 10 năm 07 tháng 26 ngày tù (đã được xoá); bị tạm giữ ngày 21/03/2024; tạm giam ngày 29/03/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 21/3/2024, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường L, phường L, quận L, Hải Phòng phát hiện Nguyễn Việt H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MIO, BKS: 16M2-2507 tại khu vực trước cửa nhà số B Lán B có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành dừng xe kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi áo phía trước bụng H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá màu đỏ trắng bên trong có 01 gói giấy màu vàng gói 01 túi nilon màu trắng kích thước 06 x 04 cm chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác đưa H cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an quận lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MIO, BKS: 16M2-2507 và số tiền 400.000 đồng.
Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Việt H tại nhà số A N, phường A, quận L, Hải Phòng. Quá trình khám xét thu giữ: tại đầu đệm ngủ khu vực gác lửng 01 hộp giấy kích thước 14 x 11,5cm bên trong có: 01 cân điện tử màu đen, kích thước 09 x 5,5cm; 01 ống nhựa dài 9,5cm một đầu cắt vát; 04 vỏ túi nilon màu trắng, mép viền màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định số 347/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Việt H gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,93 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Việt H khai: sáng ngày 21/3/2024, Việt H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của nữ giới tên Q (chưa xác định được lai lịch địa chỉ) là bạn xã hội của Việt H hỏi mua ma túy đá, Việt H đồng ý và gọi cho người nam giới khác tên H là bạn nghiện với Việt H (chưa xác định được lai lịch địa chỉ) qua số điện thoại 0799.167.xxx nhờ mua hộ 05 gam ma túy đá. H báo giá 4.300.000 đồng và hẹn Việt H đến khu vực đường P, phường H, quận H, Hải Phòng để cùng đi mua ma túy. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, Việt H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MIO, BKS: 16M2-2507 đến khu vực đường P đón nam giới tên H như đã hẹn. Việt Hùng chở H ngồi sau chỉ đường đến khu vực chợ C, quận L, Hải Phòng, H bảo V H dừng xe đưa tiền như đã thỏa thuận và đứng đợi. H đi bộ vào trong ngõ khoảng 15 phút sau quay lại chỗ Việt H thông báo đã mua được ma túy. Sau đó, H lên xe điều khiển chở Việt H quay về, trên đường đi nam giới bảo Việt Hùng ma túy ở trong túi áo đang mặc, Việt H lấy từ trong túi áo nam giới tên H 01 gói nilon màu trắng, đựng tinh thể màu trắng rồi lấy mảnh giấy màu vàng có trong vỏ bao thuốc lá gói túi nilon đựng ma túy lại, cất giấu tiếp vào vỏ bao thuốc lá rồi cho vào túi áo phía trước V đang mặc. Khi về nhà, Việt H nhận được điện thoại Q gọi, Việt H thông báo đã có 05 gam ma túy đá và báo giá 4.600.000 đồng. Q đồng ý hẹn H đến khu vực đường L, phường L, quận L, Hải Phòng để giao dịch. Khi Việt H điều khiển xe mô tô đến khu vực trước cửa nhà số B L thì bị lực lượng Công an quận L kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Ngoài ra, Việt H khai lần này là lần đầu tiên Việt H nhờ nam giới tên H mua ma túy giúp và lần đầu tiên bán ma túy cho nữ giới tên Q.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành xác minh số điện thoại 0799.167.xxx, xác định chủ thuê bao là Nguyễn Nhật T1, địa chỉ: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Xác minh tại Công an phường A thể hiện: Nguyễn Nhật T2 hiện đang chấp hành Quyết định đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk từ ngày 30/01/2024.
Xác minh số điện thoại 0901.506.xxx, theo lời khai của Nguyễn Việt H là số điện thoại của nữ giới tên Q, xác định chủ thê bao là ông Đinh Xuân K, địa chỉ: B, thị trấn V, huyện V, Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra, ông K khai: ông không dùng căn cước công dân của mình để đăng ký sử dụng số điện thoại 0901.506.xxx, ông không cho ai mượn căn cước cũng như không làm mất căn cước công dân của mình. Ông không quen biết ai có tên Nguyễn Việt H, ông chưa bao giờ mua bán, sử dụng chất ma túy.
Vật chứng của vụ án: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L 01 bì giấy niêm phong số 347MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO màu trắng đã qua sử dụng; số tiền 400.000 đồng; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 ống nhựa; 04 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha MIO, BKS: 16M2-2507, quá trình điều tra xác định BKS 16M2-2507 cấp cho anh Bùi Văn G, địa chỉ: thôn T, xã D, huyện T, Hải Phòng. Tại Cơ quan điều tra, anh G khai: anh mua chiếc xe trên vào năm 2006 ở một cửa hàng mua bán xe máy trên địa bàn huyện T, Hải Phòng. Sau khi sử dụng được một thời gian anh đã bán chiếc xe trên cho người khác, anh không nhớ cụ thể tên tuổi địa chỉ. Tiến hành xác minh số khung, số máy của xe mô tô trên cấp cho BKS: 51V2-0138, ngày cấp: 19/11/2009, chủ xe Trần Muội, địa chỉ: số B Xóm C, phường A, quận D, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã Ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tiến hành ghi lời khai đối với anh Trần M về nguồn gốc xe, tuy nhiên chưa có kết quả nên tách riêng, tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với người nữ giới tên Q là người mua ma túy của Nguyễn Việt H và người nam giới tên H mua ma túy giúp Nguyễn Việt H và nữ giới tên Q do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có cơ sở để điều tra, làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 196/CT-VKSLC ngày 21 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Nguyễn Việt H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Việt H với mức án từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 347MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 ống nhựa; 04 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO màu trắng đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt H số tiền 400.000 đồng
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 45 phút ngày 21/3/2024, tại khu vực trước cửa nhà số B L, phường L, quận L, Hải Phòng bị cáo Nguyễn Việt H bị bắt quả tang khi có hành vi cất giữ trái phép 4,93 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi áo phía trước bụng bị cáo với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thoả mãn cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 18/2004/HSST ngày 15/4/2004, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa được xoá án tích, nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo đã có 06 tiền án nhưng đã được xoá án tích nên không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Song thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu, có ý thức chấp hành pháp luật kém, không chịu tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội do cố ý
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với mức hình phạt từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[9] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý:
- - Đối với 01 bì giấy niêm phong số 347MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 ống nhựa; 04 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh. Xét thấy, số vật chứng này là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO màu trắng đã qua sử dụng. thu giữ của bị cáo, xác định đây là là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Số tiền 400.000 thu giữ của bị cáo, hiện đang trong tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân tại Kho bạc Nhà nước H1. Xác định đây là tiền của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, Do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 5 năm 6 tháng (Năm năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 03 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 347MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 ống nhựa; 04 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiện OPPO màu trắng đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 23/08/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và uỷ nhiệm chi ngày 27 tháng 08 năm 2024 tại Kho bạc nhà nước L1).
Về án phí: Áp dụng Điều 135; điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Việt H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |
Bản án số 211/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 211/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt H mua bán trái phép chất ma tuý
