|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 211/2025/HS-PT |
|
|
Ngày: 01/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Hoàng Thanh Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1169/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trịnh Phú H do có kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 517/2024/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trịnh Phú Hải, Sinh ngày 21/12/1965Thành phố Hồ Chí MinhThường trú: 1405/6 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 3/12Giới tính: Nam; Dân tộc: Hoa Tôn giáo: Không Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ Mẹ: Trịnh Ngọc T (đã chết) Bị cáo có vợ tên Lâm L (quốc tịch Mỹ) và 04 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2003Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến ngày 23/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú– Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Phú H: Ông Phan Ngọc B thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L1; Sinh năm 1974; Trú tại: 6 Hồ N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1; Sinh năm 1959; Trú tại: Số A N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền lập ngày 05/11/2024 tại Văn phòng C2, số công chứng: 010946, quyển số 11/2024TP/CC-SCC/HĐGD) - Có mặt.
- ông Đỗ Tấn N; Sinh năm 1970; Trú tại: D Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1; Sinh năm 1959; Trú tại: Số A N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền lập ngày 26/10/2024 tại Văn phòng C2, số công chứng: 010600, quyển số 10/2024TP/CC-SCC/HĐGD) - Có mặt.
Các bị cáo có liên quan đến kháng cáo:
Lâm Văn Q (tên gọi khác: S)Sinh ngày 09/11/1966Thành phố Hồ Chí MinhThường trú: H Xóm Đ, Phường H, Quận A, Thành phố H trú: Số A Đường số H, Cư xá B, Phường H, Quận A, Thành phố H nghiệp: Kinh doanhTrình độ học vấn: 3/12Giới tính: Nam; Dân tộc: HoaTôn giáo: KhôngQuốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Khai L2 (đã chết)bà Lâm Tô H2 (đã chết)Bị cáo có vợ có vợ tên Lee W và 04 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2006Tiền án, tiền sự: MERGEFIELD Tiền_án_tiền_sự Không
Bị bắt, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến ngày 23/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trúCó mặt.
3. Trịnh Minh TàiSinh ngày 26/3/1991Thành phố Hồ Chí MinhThường trú: 1549/19 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố H nghiệp: Buôn bánTrình độ học vấn: 9/12Giới tính: Nam; Dân tộc: HoaTôn giáo: KhôngQuốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Phú Hảibà Hà Lệ T1 (đã chết)Bị cáo có vợ có vợ tên Phạm Thị Thanh T2 và 01 con sinh năm 2017Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoạiCó mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2018, thông qua mối quan hệ xã hội bà Nguyễn Thị L1 quen biết với Trịnh Phú H. Trong thời gian quen biết, do cần tiền lo thủ tục giải quyết tranh chấp đất của gia đình nên bà L1 nhiều lần vay mượn tiền của H. Đến tháng 11/2022, bà L1 và H chốt số tiền lãi các khoản vay là 3.100.000.000 đồng. Để có tiền trả lãi cho H, H đã giới thiệu Lâm Văn Q (bạn H) để cho bà L1 vay tiền. Trước khi H dẫn bà L1 đến gặp Q thì H liên hệ với Q để hỏi cho bà L1 vay tiền, Q đồng ý với điều kiện H phải góp tiền chung với Q để cho bà L1 vay, H đồng ý góp 1 tỷ đồng, Quan 2,5 tỷ đồng.
Ngày 17/11/2022, H cùng bà L1 đến nhà Q tại địa chỉ 1 Đường số H, cư xá B, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để thỏa thuận vay tiền. Để làm tin và bảo đảm khoản vay, bà L1 đã thế chấp cho Q Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 355952 (Thửa đất số 62, Tờ bản đồ 56-SĐN(13-TL02), địa chỉ: 6 Hồ H, Khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) do bà L1 và chồng là ông Đỗ Tấn N đứng tên chủ sở hữu để vay số tiền 3,5 tỷ đồng với thỏa thuận lãi suất 03 tháng đầu (từ ngày 17/11/2022 đến ngày 17/02/2023) là 5%. Nếu hết 03 tháng mà bà L1 không trả tiền gốc thì lãi suất tăng lên 10%. Quan và bà L1 ký “Giấy cầm sổ mượn tiền” ngày 17/11/2022 với nội dung bà L1 và ông Đỗ Tấn N cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 355952, (địa chỉ 606/16 H, Khu phố E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) cho Lâm Văn Q với số tiền 3.500.000.000 đồng, trong vòng 03 tháng kể từ ngày 17/11/2022 đến hết ngày 17/02/2023, bà L1 phải hoàn trả lại số tiền 3.500.000.000 đồng cho Q. Đồng thời, Q yêu cầu bà L1 phải viết “Giấy cam kết” có nội dung nếu đến ngày 17/02/2023, không trả được tiền gốc thì bà L1 phải tự nguyện trả lãi suất 10%/01 tháng, bà L1 đồng ý và gọi điện thoại nhờ em gái là chị Trương Thị Cẩm N1 đến nhà Q và viết giúp “Giấy cam kết” với nội dung như trên (Q cũng ký vào giấy cam kết này). Sau đó, Q giao tiền cho bà L1 rồi lên lầu cất giấy tờ. Bà L1 nhận tiền rồi giao lại cho H để trả tiền lãi. Sau đó, H, bà L1 và chị N1 đi về nhà. Khoảng 01 đến 02 ngày sau (kể từ ngày ký giấy vay tiền), H gọi điện thoại kêu bà L1 đến nhà H và H đưa cho bà L1 400.000.000 đồng tiền mặt, sau khi trừ đi số tiền lãi 3.100.000.000 đồng mà bà L1 đã nợ.
Trong 03 tháng đầu, bà L1 đã đóng đủ cho Q và H số tiền 175.000.000 đồng/01 tháng (tương đương lãi suất 5%/1 tháng). Đến ngày 17/02/2023, bà L1 không trả được số tiền 3.500.000.000 đồng như đã thỏa thuận nên từ ngày 17/3/2023, phải trả lãi suất 10%/01 tháng (tương đương với số tiền 350.000.000 đồng/01 tháng). Từ tháng 03/2023 đến tháng 11/2023 (09 tháng) bà L1 đã trả cho Q và H mỗi tháng 350.000.000 đồng. Trong số tiền 350.000.000 đồng thì Q nhận được 200.000.000 đồng tiền lãi và H được 150.000.000 đồng (gồm 100 triệu đồng tiền lãi của số tiền 01 tỷ đồng và 50.000.000 đồng còn lại là tiền hoa hồng Q cho H vì đã giới thiệu bà L1 vay tiền của Q).
Đầu năm 2024, do không còn khả năng trả lãi nên bà L1 gọi H, Q đến nhà bà L1 tại quận B để chốt tiền gốc, tiền lãi phải trả và phương án trả nợ. Ngày 29/01/2024, H, Q, Trịnh Minh T3 (con ruột của H) và một số người khác (chưa xác định được lai lịch) đã đến nhà bà L1. Tại đây, do các bên không thống nhất được các khoản vay nên giữa bà L1 và nhóm của H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Ngày 29/02/2024, bà L1 làm đơn tố cáo Trịnh Phú H và đồng phạm có hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Như vậy, bà L1 đã vay của Q và H 3.500.000.000 đồng tiền gốc, tính từ tháng 03/2023 lãi suất là 10%/01 tháng và bà L1 đã đóng được 09 tháng (từ tháng 03/2023 đến tháng 11/2023) với tổng số tiền lãi là 3.150.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.625.000.00 đồng (trong đó tiền lãi theo quy định nhà nước là 58.333.333 đồng/01 tháng x 9 tháng = 525.000.000 đồng. Tiền thu lợi bất chính
là 3.150.000.000 đồng – 525.000.00 đồng = 2.625.000.000 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 1.125.000.000 đồng, Q thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng).
Quá trình điều tra xác định, ngoài khoản cho vay trên, từ tháng 05/2023 đến tháng 06/2023, Trịnh Phú H còn nhờ con ruột là Trịnh Minh T3 đứng ra giúp H cho bà L1 vay tổng cộng 04 lần, với lãi suất từ 0,83%/01 ngày đến 01%/01 ngày và 10%/01 tháng, H hứa hẹn sẽ cho tiền Tài tiêu xài và sẽ lo cho con trai của T3 vào trường điểm để học, T3 đồng ý, cụ thể như sau:
- + Lần thứ 1: Ngày 04/5/2023, theo đề nghị của H, T3 đứng ra cho bà L1 vay số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày (kể từ ngày 06/5/2023 đến ngày 16/5/2023), thu lãi trước 60.000.000 đồng (tương đương với lãi suất 01%/01 ngày), H đã đưa 540.000.000 tiền mặt cho T3 và T3 đã nhờ Phạm Thị Thanh T2 (vợ của T3) chuyển qua tài khoản của chị Đỗ Nguyễn Kim C (con ruột bà L1) để cho bà L1 vay. Đến ngày 10/5/2023, thông qua tài khoản của chị C, bà L1 đã tất toán chuyển trả 600.000.000 đồng cho T3 và T3 đã đưa lại số tiền này cho H. Như vậy, số tiền Tài giúp H thu lợi bất chính trong khoản vay này là 56.666.667 đồng (trong đó lãi suất theo quy định của nhà nước là 333.333 đồng/1 ngày x 10 ngày =3.333.330 đồng. Tiền lãi đã thu là 60.000.000 đồng – 3.333.330 đồng = 56.666.667 đồng).
- + Lần thứ 2: Ngày 12/5/2023, T3 đứng ra giúp H cho bà L1 vay 600.000.000 đồng, trong thời hạn 10 ngày (từ ngày 12/5/2023 đến ngày 21/5/2023), thu lãi trước 50.000.000 đồng (tương đương lãi suất 0,83%/01 ngày). H đã đưa 550.000.000 tiền mặt cho T3 và T3 đã nhờ T2 chuyển khoản cho bà L1 vay thông qua tài khoản của chị C (con gái ruột của bà L1). Ngày 29/5/2023, bà L1 đã nhờ chị C chuyển khoản tất toán cho T3 số tiền 600.000.000 đồng và T3 đã giao số tiền này cho H. Như vậy, T3 đã giúp H thu lợi bất chính trong khoản vay này là 46.666.667 đồng (trong đó lãi suất theo quy nước là 333.333 đồng/01 ngày x 10 ngày =3.333.330 đồng. Tiền lãi đã thu là 50.000.000 đồng – 3.333.330 đồng = 46.666.667 đồng).
- + Lần thứ 3: cũng trong ngày 12/5/2023, T3 giúp H cho bà L1 vay số tiền 600.000.000 đồng, trong thời hạn 10 ngày (từ ngày 12/5/2023 đến ngày 21/5/2023), thu lãi trước 60.000.000 đồng (tương đương lãi suất 01%/01 ngày). H đã đưa 540.000.000 tiền mặt cho T3 và T3 nhờ chị T2 chuyển khoản cho bà L1 vay thông qua tài khoản của chị C. Sau đó, cách ngày 29/5/2023 (khoản 01 đến 02 ngày), bà L1 hẹn gặp và trả trực tiếp cho T3 số tiền 600.000.000 đồng, T3 đã giao lại số tiền nay cho H. Số tiền Tài giúp H thu lợi bất chính trong khoản vay này là 56.666.667 đồng (trong đó lãi suất theo quy định của nhà nước là 333.333 đồng/1 ngày x 10 ngày =3.333.330 đồng. Tiền lãi đã thu là 60.000.000 đồng – 3.333.330 đồng = 56.666.667 đồng).
- + Lần thứ 4: Cuối tháng 6/2023, T3 tiếp tục giúp H cho bà L1 vay số tiền 2.000.000.000 đồng, với lãi suất 200.000.000 đồng/01 tháng (tương đương 10%/01 tháng), không có thời hạn vay cụ thể, cho vay theo từng tháng, tính và thu tiền lãi theo từng tháng, nếu tháng này không trả được gốc thì tiếp tục chuyển
khoản vay sang tháng tiếp theo và trả lãi 10%/tháng, thu trước tiền lãi tháng đầu tiên là 200.000.000 đồng. Ngày 28/6/2023, H đưa cho T3 1.800.000.000 đồng tiền mặt (sau khi đã trừ lãi tháng đầu là 200.000.000 đồng) và T3 đã nhờ chị T2 chuyển khoản cho bà L1. Hàng tháng, T3 sẽ nhắc bà L1 đóng tiền lãi và T3 được H cho tiền từ khoảng 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng từ việc bà L1 chuyển trả tiền lãi. Đối với khoản vay này, do bà L1 đóng tiền lãi không đúng thời hạn (có tháng đóng và có tháng không đóng) và mỗi lần bà L1 chuyển tiền thì bao gồm có tiền lãi của các khoản vay khác (đã vay của H trước đó) gộp chung nên T3 không xác định được bà L1 đang trả tiền lãi của khoản vay nào. Cả H và bà L1 cũng không nhớ chính xác bà L1 đã đóng tiền lãi của khoản vay này được bao nhiêu lần, chỉ nhớ khoảng 3 đến 4 lần nhưng không rõ số tiền là bao nhiêu. Số tiền Tài đã giúp H thu lợi bất chính cho khoản vay này là 166.666.667 đồng (trong đó tiền lãi vay 2 tỷ đồng/01 tháng theo quy định của nhà nước là 33.333.333 đồng/01 tháng. Tiền lãi đã thu là 200.000.000 đồng – 33.333.333 đồng = 166.666.667 đồng).
Như vậy, tổng số tiền Tài giúp H thu lợi bất chính trong 04 lần cho bà L1 vay là 326.666.668 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 517/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58; Điều 35; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trịnh Phú H số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 2824/2024/LPTTK-TA ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nghĩa vụ thi hành hình phạt tiền của bị cáo Trịnh Phú H.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lâm Văn Q, Trịnh Minh T3, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/11/2024, bị cáo Trịnh Phú H có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại biên pháp tư pháp và xử lý vật chứng theo hướng truy thu số tiền dùng cho vay là 3.500.000.000đ từ bà Nguyễn Thị L1.
Ngày 22/11/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N có đơn kháng cáo đề nghị cấp phuc thẩm xem xét lại các khoản vay và số tiền thực tế mà bà L1 đã trả cho bị cáo P, Q để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự, dân sự của các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trịnh Phú H vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và trình bày: thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án đã nêu, không kháng cáo về mức hình phạt mà chỉ kháng cáo về phần biện pháp tư pháp. Nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên về quá trình vay, trả tiền gốc, lại đúng như bản án sơ thẩm nêu. Các khoản vay trước tháng 11/2022 theo mức lãi suất bao nhiêu, bị cáo không nhớ rõ...Tháng 11 năm 2022 bị cáo và bà L1 chốt số nợ là 3.100.000.000 đồng. Ngày 17/11/2022, bà L1 vay Q 3.500.000.000 đồng, dùng 3.100.000.000 đồng trả số nợ cũ cho bị cáo, còn 400.000.000 đồng, bị cáo đã giao cho bà L1. Như vậy số tiền 3.100.000.000 đồng bà L1 chưa trả cho Q và bị cáo. Nay cấp sơ thẩm lại tuyên buộc bị cáo phải nộp 3.100.000.000 đồng là không đúng. Đề nghị sửa án sơ thẩm không buộc bị cáo phải trả số tiền này.
Ngoài ra các đợt vay ngày 4/5/2023, ngày 12/5/2023, là cùng một khoản tiền 600.000.000 đồng. Bị cáo sử dụng quay vòng vốn, vì vậy cấp sơ thẩm tuyên buộc tịch thu 1.800.000.000 đồng là không có căn cứ, đề nghị chỉ tịch thu 600.000.000 đồng.
Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Tấn N và bà Nguyễn Thị L1 là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Từ năm 2018 đến 2021 bà có vay của H 1.200.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, đến tháng 11/2022 bà đề nghị chốt vốn và lãi là 3.500.000.000 đồng. diễn biến các lần cho vay nặng lãi đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Từ ngày 30/12/2023 đến tháng 01/2024, bà nhờ con gái là Đỗ Thị Kim C1 nhiều lần trả tiền cho H và Q, bản thân bà cũng chuyển khoản cho H 350.000.000 đồng, tổng cộng tra 1.850.000.000 đồng.
Tổng số tiền theo các bản sao kê đã gửi cho cơ quan điều tra lên đến 15 tỷ, nhưng cơ quan điều tra không xem xét. Tôi đề nghị xem xét về phần hình phạt đối với các bị cáo chứ không thể chỉ phạt tiền được. Đề nghị HĐXX truy thu số tiền này, một phần trả cho bà L1, còn lại nộp vào ngân sách nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: số tiền truy thu 3.100.000.000 đồng là bà L1 còn giữ, bị cáo chưa nhận từ bà L1.
Khoản tiền này, bà L1 có nhận từ ông Q sau đó có mang tiền qua nhà H để trả. Bà L1 đã nhận tiền từ ông Q. Đến hôm nay, phía bà L1 cũng thừa nhận bà L1 chưa trả lại cho ông Q. Căn cứ theo NQ 01 thì khoản cần truy thu còn nằm ở người nào thì truy thu người đó. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Phú H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N làm trong hạn luật định đề nghị xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: sau khi xem xét các tại liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bản án hình sự sơ thẩm đã phán quyết là đúng cơ sở pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo H và đại diện theo ủy quyền của bà L1, ông N kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết nào mới, đề nghị HĐXX không chấp nhận đơn kháng cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Phú H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N làm trong hạn luật định, được Hội đồng phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
- [2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại diễn biến của phiên tòa sơ thẩm.
Đủ căn cứ để xác định: Về tội danh và hình phạt thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo phạm tội Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật, các bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về mức hình phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.1]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Trịnh Phú H:
Đối với lần vay thứ nhất ngày 17/11/2022: số tiền vay 3.500.000.000 đồng, bị cáo trừ vào số nợ cũ mà bị cáo H và bà L1 đã xác nhận 3.100.000.000 đồng, còn 400.000.000 đồng bị cáo H đã giao lại cho bà L1. Như vậy số tiền 3.100.000.000 đồng đã trừ vào số nợ cũ (giao dịch dân sự giữa hai bên, cơ quan điều tra không chứng minh được giao dịch này là cho vay nặng lãi). Đủ cơ sở xác định bà L1 chưa hoàn trả số tiền 3.500.000.000 đồng này cho các bị cáo. Cấp sơ thẩm chỉ xác định bà L1 chưa trả 400.000.000 đồng, buộc bị cáo nộp lại 3.100.000.000 đồng và buộc bà L1 nộp 400.000.000 đồng là không đúng. Phần kháng cáo này của bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, buộc bà L1 phải nộp lại 3.500.000.000 đồng để sung công quỹ đối với khoản vay này. Trừ 3.100.000.000 đồng cho bị cáo vào khoản nộp sung công quỹ.
Đối với các khoản vay ngày 04.5/2023 (600.000.000 đồng) và ngày 12/05/2023 (600.000.000 đồng + 600.000.000 đồng): khoản vay ngày 04/5/2023 được tất toán ngày 10/5/2023, trước khoản vay sau 02 ngày; ngày 12/05/2023 bị cáo cho bà L1 vay cùng lúc 02 khoản tiền 600.000.000 đồng. Như vậy đây là 03
khoản tiền khác nhau, không có cơ sở để xác định 03 lần cho vay 600.000.000 đồng là cùng một khoản tiền như bị cáo trình bày. Cấp sơ thẩm buộc bị cáo nộp sung công quỹ 1.800.000.000 đồng đối với 03 khoản vay này là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N:
Bà Nguyễn Thị L1 và ông Đỗ Tấn N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có quyền kháng cáo về mức hình phạt, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa, bà L3 trình bày khoản vay ban đầu là 1.200.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, chốt nợ tháng 11/2022 là 3.500.000.000 đồng. Ngoài ra từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 bà đã trả thêm 1.850.000.000 đồng: Ngay tại đơn tố cáo và suốt qua trình điều tra, bà L1 đã khai nhận nội dung như trình bày trong đơn kháng cáo. Tuy nhiên cơ quan điều tra không làm rõ được khoản vay từ năm 2018 là bao nhiêu, mức lãi suất bao nhiêu, không xác định được đây có phải là khoản cho vay nặng lãi hay không. Tại cơ quan điều tra bà L1 cũng trình bày từ cuối năm 2023 đến đầu năm 2024 đã trả thêm 1.850.000.000 đồng cho H. Tuy nhiên không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, bà L1, ông N cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Các bản sao kê bà L1 cung cấp tại cơ quan điều tra và yêu cầu xem xét tại cấp phúc thẩm là sao kê của nhiều tài khoản khác nhau, chuyển cho nhiều người khác nhau, đại diện người bị hại không xác định được khoản nào là khoản trả nợ cho H, Q. Không xác định được khoản vay ban đầu, tiền gốc, tiền lãi đã trả. Không cung cấp được lý lẽ, tình tiết và chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà L1, ông N.
Tại phiên tòa tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Trịnh Phú H được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bà L1, ông N phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trịnh Phú H, bác kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 517/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- * Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- - Buộc bị cáo Trịnh Phú H nộp lại số tiền 2.276.796.153 (hai tỷ hai trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu ngàn một trăm năm mươi ba) đồng, sung ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Lâm Văn Q nộp lại số tiền 375.007.500 (ba trăm bảy mươi lăm triệu không trăm lẻ bảy ngàn năm trăm) đồng, sung ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Trịnh Minh T3 nộp lại số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng), sung ngân sách Nhà nước.
- - Buộc bà Nguyễn Thị L1 nộp lại số tiền 5.500.000.000 (năm tỷ năm trăm triệu) đồng, sung ngân sách Nhà nước.
- * Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- - Buộc bị cáo Trịnh Phú H trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 1.451.803.653 (một tỷ bốn trăm năm mươi mốt triệu tám trăm lẻ ba ngàn sáu trăm năm mươi ba) đồng.
- - Buộc bị cáo Lâm Văn Q trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
Trường hợp các bị cáo H, Q thi hành nghĩa vụ nêu trên với bà Nguyễn Thị L1 tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thì tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà Nguyễn Thị L1.
2. Về án phí phúc thẩm: bị cáo Trịnh Phú H không phải chịu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0069519 ngày 16/12/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Bản án số 211/2025/HS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 211/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Phúc thẩm hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1, ông Đỗ Tấn N, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 517/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
