|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 12 - 2024 V/v “Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Tự;
2. Ông Nguyễn Thành Quyến.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 551/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST-HN, ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Võ Văn T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Đặng Thị Hồng N, sinh năm 1997.
Địa chỉ: ấp Đ, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Võ Văn T (Sau đây gọi anh T) trình bày:
Giữa anh và bị đơn Đặng Thị Hồng N (Sau đây gọi chị N) qua tìm hiểu nhau, tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2015 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, đã nhiều lần hoà giải hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị N.
-Về con chung: Có hai người con chung tên Võ Văn Tuấn A (Nam) và Võ Văn Tuấn H (Nam), sinh cùng ngày 10 tháng 10 năm 2016. Từ khi ly thân đến nay thì các con chung do anh T nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi cả hai người con chung, chưa yêu cầu vợ anh cấp dưỡng.
-Về nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn Đặng Thị Hồng N vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại các bản tự khai ngày 01 tháng 11 năm 2024, các cháu Tuấn A và Tuấn H trình bày có sự chứng kiến của anh T: Khi cha, mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với cha.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn với bị đơn. Giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Võ Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đặng Thị Hồng N được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện tiến tới đời sống chung như vợ chồng vào năm 2015 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hôn nhân không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T: Trong thời gian chung sống giữa anh và chị N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nhưng không có biện pháp để hòa giải đoàn tụ mà đã chọn cách sống ly thân, xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tạo điều kiện để hai người được đoàn tụ và tiến tới đăng ký kết hôn theo quy định nhưng chị N vắng mặt, chứng minh rằng chị N cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa anh, chị đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do hôn nhân giữa anh, chị không đăng ký kết hôn nên khi có yêu cầu ly hôn; Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình: Không công nhận anh Võ Văn T và chị Đặng Thị Hồng N là quan hệ vợ chồng.
[5] Về con chung: Có hai người con chung, xét hai người con đều được anh T nuôi dưỡng từ khi hai người ly thân. Anh T có yêu cầu được nuôi cả hai người con, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của cả hai người con chung. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao cả hai người con chung cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị N, anh T có yêu cầu khác.
[6] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh T chưa yêu cầu chị N cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.
[7] Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
[8] Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có căn cứ chấp nhận;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 14, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Võ Văn T và chị Đặng Thị Hồng N.
2. Về nuôi con chung: Giao các cháu Võ Văn Tuấn A (Nam) và Võ Văn Tuấn H (Nam), sinh cùng ngày 10 tháng 10 năm 2016 cho anh Võ Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị N, anh T có yêu cầu khác.
Đặng Thị Hồng N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Đặng Thị Hồng N mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Võ Văn T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007103, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |
Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Võ Văn T và chị Đặng Thị Hồng N. Về nuôi con chung: Giao các cháu Võ Văn Tuấn A (Nam) và Võ Văn Tuấn H (Nam), sinh cùng ngày 10 tháng 10 năm 2016 cho anh Võ Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị N, anh T có yêu cầu khác. Đặng Thị Hồng N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Đặng Thị Hồng N mà không ai có quyền cản trở. 3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét
