|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 211/2024/HS-ST
Ngày: 05-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Ông Nguyễn Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt Bách – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 211/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D, sinh năm 1992, tại Phú Yên; Thường trú: Thôn L, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị C; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024; – Có mặt
- Người bị hại: Anh Nguyễn Thành V, sinh năm: 2005
Địa chỉ: A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thái Thị Hồng T, sinh năm: 1979
Địa chỉ: Xóm D, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị D là đối tượng sống lang thang, hành nghề nhặt ve chai bán kiếm sống. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, D đi bộ trên tuyến đường V, khi đến trước nhà số B V, phường P, quận T thì D thấy 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 77H1 – 158.50 để trên lề đường, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. Dung tiếp cận xe gắn máy trên rồi dắt xuống lòng đường, do xe bị khóa cổ nên D di chuyển xe bằng cách lùi xe đến khi xe bị lệch hướng thì nhấc đuôi xe lại để điều chỉnh hướng. Khi di chuyển xe trên tuyến đường V (không rõ số nhà) thì gặp một người xe ôm (không rõ lai lịch), D mượn chìa khóa xe của người đàn ông này để mở khóa xe gắn máy D lấy trộm nhưng không mở được nên người đàn ông bỏ đi còn D tiếp tục đẩy xe. Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, khi đến trước nhà số C V, phường P, quận T gặp anh Lâm Quang H1 để hỏi chỗ làm chìa khóa xe. Do D có biểu hiện nghi vấn nên anh H1 trình báo Công an phường P và mời D về làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, D cho biết việc thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy trên là do có 02 đối tượng (chưa rõ lai lịch) thuê D với giá 200.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 1740/KL-HĐĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy bản nhân dân quận T kết luận (tại thời điểm ngày 25/7/2024): 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 77H1 – 158.50 đã qua sử dụng trị giá 8.000.000 đồng (Bút lục: 40).
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 77H1 – 158.50. Qua xác minh được biết xe gắn máy trên do bà Thái Thị Hồng T, sinh năm 1979, thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu. Bà T trình bày giao xe cho anh Nguyễn Thành V (con ruột bà T) sử dụng để đi học. Hiện Cơ quan điều tra trả lại xe gắn máy trên cho anh V (Bút lục 117).
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, có số Imei: 861128054910895. D sử dụng liên lạc cá nhân.
- 01 nón kết, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh; 01 quần jeans dài, màu đen. Là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 222/PNK ngày 23/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T (Bút lục C).
Về phần dân sự: anh Nguyễn Thành V đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm
Tại Bản cáo trạng số: 235/CT-VKSQTP ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị D thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 25/7/2024, Nguyễn Thị D có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 77H1 – 158.50 trị giá 8.000.000 đồng của anh Nguyễn Thành V tại trước nhà số B V, phường P, quận T thì bị bắt. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo.
Đối với người đàn ông chạy xe ôm (chưa rõ lai lịch) cho D mượn chìa khóa xe để mở khóa xe. Hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với 02 đối tượng (chưa rõ lai lịch) thuê D trộm cắp xe gắn máy thì Cơ quan điều tra đã cho D xác định nơi gặp nhau của D và 02 đối tượng nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch (Bút lục 53 đến 54). Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Do đó hội đồng xét xử không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác do đó Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 77H1 – 158.50. Qua xác minh được biết xe gắn máy trên do bà Thái Thị Hồng T, sinh năm 1979, thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu. Bà T trình bày giao xe cho anh Nguyễn Thành V (con ruột bà T) sử dụng để đi học. Hiện Cơ quan điều tra trả lại xe gắn máy trên cho anh V. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, số imei: 861128054910895, đã qua sử dụng. Bị cáo D sử dụng liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo.
- 01 nón kết, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh; 01 quần jeans dài, màu đen. Là trang phục D mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024
[3] Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
[5] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón kết, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh; 01 quần jeans dài, màu đen.
- Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei: 861128054910895, đã qua sử dụng.
Vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng vật chứng số: 222/PNK ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Công an quận T.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[8] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |
[8] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 211/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 211/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D phạm tội trộm cắp tài sản
