|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 211/2024/HSST Ngày: 23-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông; Bà Trần Thị Phối
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trúc Phương - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huỳnh T, giới tính: N; sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Định; nơi thường trú: Tổ A, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thế Q (chết) và bà: Huỳnh Thị T1, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt theo Quyết định truy nã và tạm giữ từ ngày 16/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 19/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Bà Lê Thị L, địa chỉ: 123 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần T3; Địa chỉ trụ sở: Số 100 đường T, khu phố G, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc Tiên T2; Nơi cư trú: Số 10 đường C, H, TP. T, TP.H . (Vắng mặt)- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Tấn V, địa chỉ: Khu tập thể C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
Anh Phan Thành V1, địa chỉ: 22 đường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)
Anh Phạm Ngọc L1, địa chỉ: 02 Đường T, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
Anh Phạm Đoàn Quốc H, địa chỉ B T, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/8/2023, Nguyễn Huỳnh T đến thuê phòng tại khách sạn Đ (địa chỉ số B T, phường G. Ráng, thành phố Q). Lúc này, T chỉ đưa hình ảnh thẻ Căn cước công dân của T trên điện thoại cho nhân viên lễ tân khách sạn là Phạm Ngọc L1 (Sinh năm: 2001; trú tại thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên) để thuê phòng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, anh Nguyễn Tấn V (sinh năm: 1991; trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định) đến khách sạn "Đ" thuê phòng nghỉ và đưa căn cước công dân của T cho lễ tân khách sạn. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T xuống quầy lễ tân trả phòng thì lúc này Phạm Đoàn Quốc H (sinh năm 2000, trú tại khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên) là lễ tân của khách sạn "Đào Tiên" đưa nhầm cho T căn cước công dân của anh Nguyễn Tấn V. Mặc dù biết lễ tân lấy nhầm căn cước công dân của người khác nhưng T vẫn lấy mang đi.
Đến khoảng 21 giờ ngày 24/8/2023, Nguyễn Huỳnh T đến khách sạn "Mỹ Lan", địa chỉ 123 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định gặp nhân viên lễ tân Phan Thành V1 (Sinh năm: 1996; trú tại thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Định) và tự xưng là Nguyễn Tấn V, đồng thời sử dụng căn cước công dân của Nguyễn Tấn V thuê phòng. Khoảng 10 giờ ngày 25/8/2023, T xuống quầy lễ tân gặp bà Lê Thị L (Sinh năm: 1952; chủ khách sạn M) và tiếp tục sử dụng căn cước công dân này để làm hợp đồng thuê xe mô tô biển số 68P1-322.34 nhãn hiệu Sirius trong thời gian 02 ngày (ngày 25/8/2023 và ngày 26/8/2023). Bà L tin tưởng T chính là Nguyễn Tấn V nên đã đồng ý giao xe mô tô trên cho T và yêu cầu T trả trước tiền thuê xe là 200.000 đồng. Sau khi thanh toán tiền thuê và nhận xe, T điều khiển xe mô tô rời đi tìm nơi bán để lấy tiền tiêu xài. Đến cuối tháng 8/2023, T đến uống cà phê tại một quán ở khu vực "Chợ D" (không nhớ địa chỉ cụ thể) và bán xe mô tô biển số 68P1-322.34 cho một người khách lạ mặt tại quán (không rõ tên tuổi, thông tin cá nhân) với giá 4.000.000 đồng, sau đó lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Lúc hết hạn hợp đồng, bà L nhiều lần gọi điện thoại cho T để đòi xe nhưng T không nghe máy mà bỏ trốn nên bà L trình báo sự việc đến cơ quan Công an.
Ngày 30/9/2023, Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận 01 xe mô tô biển số: 68P1-322.34, màu: Trắng Xanh, số máy: 5C6J173762, số khung: C6J0GY173764, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: Sirius, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 25/8/2023 trị giá 8.000.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 016837 của xe mô tô biển số 68P1-322.34; 01 Căn cước công dân số: [...], mang tên Nguyễn Tấn V; 01 hợp đồng cho thuê xe mô tô; 01 hình ảnh chụp màn hình điện thoại di động có hình ảnh mặt trước Căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Huỳnh T. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Tấn V 01 Căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Tấn V; 01 Giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 016837 của xe mô tô 68P1-322.34.
Về dân sự: Bị hại Lê Thị L yêu cầu Nguyễn Huỳnh T bồi thường số tiền 14.000.000 đồng, T chưa bồi thường.
- Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKSQN ngày 28.8.2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Huỳnh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, do đó đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Về hình phạt đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T từ 09 đến 12 tháng tù. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lê Thị L số tiền 14.000.000 đồng.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Ngày 25/8/2023, tại khách sạn M, địa chỉ số 123 đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, bị cáo Nguyễn Huỳnh T đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách sử dụng căn cước công dân mang tên Nguyễn Tấn V để làm hợp đồng thuê xe mô tô biển số 68P1-322.34 trị giá 8.000.000 đồng của bị hại bà Lê Thị L rồi chiếm đoạt, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:
- [4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- [4.2] Về tình tiết tăng nặng Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- [4.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Huỳnh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại bà Lê Thị L yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà 14.000.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng là trị giá xe mô tô biển số 68P1-322.34 mà bị cáo đã chiếm đoạt và số tiền 6.000.000 đồng là số tiền bị mất thu nhập trong khoảng thời gian bị chiếm đoạt xe. Tại phiên toà, bị cáo thống nhất toàn bộ yêu cầu của bị hại Lê Thị L, do đó buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà L số tiền 14.000.000 đồng là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Do chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của HĐXX, tuy nhiên mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên HĐXX xem xét, cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/6/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh T phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được quyền yêu cầu bồi thường, hoàn trả có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ phải thi hành không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Thị Định |
Bản án số 211/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 211/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
