|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 211/2024/DS-ST Ngày 10 – 9 – 2024 V/v tranh chấp HĐ về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Việt Khái
- Ông Trần Văn Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Bảo Trân – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 348/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng về hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp Hưng H, xã Tân Hưng T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1987 và chị Võ Cẩm V, sinh năm 1995; Cùng địa chỉ: ấp Hưng H, xã Tân Hưng T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; Địa chỉ: ấp Tân N, xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (xin văng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T (nguyên đơn) trình bày:
Bà có tham chơi hụi do ông Huỳnh Văn Đ và anh Huỳnh Văn L làm chủ, cụ thể:
Dây thứ nhất, ông Đ mở hụi vào ngày 06/01/2021 âm lịch, dây hụi 500.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 06, 21 hàng tháng, hụi có 100 chân, bà tham gia chơi 03 chân và mua 03 chân. Quá trình chơi hụi, bà đóng hụi sống đến kỳ thứ 80 đến kỳ thứ 81 nhằm ngày 06/4/2024 âm lịch, ông Đ khui hụi nhưng tuyên bố đình hụi nên bà không đóng hụi sống ở kỳ này. Trong dây hụi này, bà chưa hốt chân nào nên đối với 03 chân hụi bà trực tiếp chơi, ông Đ nợ bà số tiền 120.000.000 đồng, trừ tiền cò mỗi chân là 350.000 đồng thì ông Đ còn nợ bà số tiền 118.950.000 đồng. Đối với 03 chân hụi mua, bà chỉ tính giá mua, không tính lãi, mỗi chân mua với giá 35.000.000 đồng, 03 chân ông Đ nợ bà số tiền 105.000.000 đồng. Tổng số tiền trong dây hụi này, ông Đ nợ bà số tiền 223.950.000 đồng.
Dây thứ hai, mở ngày 10/5/2021 âm lịch, ông Đ mở dây hụi 500.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 10, 25 hàng tháng, hụi có 73 chân, bà tham gia chơi 01 chân. Quá trình chơi hụi, bà đã đóng hụi sống đến kỳ thứ 72 đến kỳ 73 nhằm ngày 10/4/2024 âm lịch là mãn hụi nhưng ông Đ không chung hụi nên trong dây hụi này, ông Đ nợ bà số tiền 36.000.000 đồng, trừ tiền cò 350.000 đồng thì ông Đ còn nợ bà số tiền 35.650.000 đồng.
Dây thứ ba, mở ngày 15/10/2021 âm lịch, ông Đ mở dây hụi 1.000.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 15, 30 hàng tháng, hụi có 63 chân, bà tham gia chơi 03 chân. Quá trình chơi hụi, bà chưa hốt chân nào và đã đóng hụi sống đến kỳ thứ 60 thì hụi mãn với số tiền là 180.000.000 đồng nhưng ông Đ chỉ chung được 60.000.000 đồng còn lại 120.000.000 đồng chưa chung, trừ tiền cò mỗi chân 700.000 đồng thì ông Đ nợ bà số tiền 117.900.000 đồng.
Dây thứ tư, ông Đ mở hụi vào ngày 10/01/2023 âm lịch, dây hụi 1.000.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 10, 25 hàng tháng, hụi có 65 chân, bà tham gia chơi 03 chân và mua 04 chân. Quá trình chơi hụi, bà đóng hụi sống đến kỳ thứ 32 đến kỳ thứ 33, ông Đ khui hụi nhưng tuyên bố đình hụi nên bà không đóng hụi sống ở kỳ này. Trong dây hụi này, bà chưa hốt chân nào nên đối với 03 chân hụi bà trực tiếp chơi, ông Đ nợ bà số tiền 96.000.000 đồng, trừ tiền cò mỗi chân là 700.000 đồng thì ông Đ còn nợ bà số tiền 93.900.000 đồng. Đối với 03 chân hụi mua, bà chỉ tính giá mua, không tính lãi, 04 chân ông Đ nợ bà số tiền 174.550.000 đồng. Tổng số tiền trong dây hụi này, ông Đ nợ bà số tiền 268.450.000 đồng.
Dây thứ năm, anh L mở hụi vào ngày 15/4/2023 âm lịch, dây hụi 1.000.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 10, 25 hàng tháng, hụi có 58 chân, bà tham gia chơi 01 chân và mua 02 chân. Quá trình chơi hụi, bà đóng hụi sống đến kỳ thứ 24 đến kỳ thứ 25, ông Đ khui hụi nhưng tuyên bố đình hụi nên bà không đóng hụi sống ở kỳ này. Trong dây hụi này, bà chưa hốt chân nào nên đối với 01 chân hụi bà trực tiếp chơi, ông Đ nợ bà số tiền 24.000.000 đồng, trừ tiền cò 700.000 đồng thì ông Đ còn nợ bà số tiền 23.300.000 đồng. Đối với 02 chân hụi mua, bà chỉ tính giá mua, không tính lãi, 02 chân anh L nợ bà số tiền 78.600.000 đồng. Tổng số tiền trong dây hụi này, anh L nợ bà số tiền 101.900.000 đồng.
Dây thứ sáu, mở ngày 10/01/2024 âm lịch, ông L mở dây hụi 1.000.000 đồng, hụi khui tháng 02 lần vào các ngày 10, 25 hàng tháng, hụi có 50 chân, bà tham gia chơi 01 chân. Quá trình chơi hụi, bà chưa hốt hụi và đã đóng hụi sống đến kỳ thứ 6 nhưng đến ký thứ 7, anh L tuyên bố đình hụi. Trong dây hụi này, trừ tiền còn 700.000 đồng thì anh L còn nợ bà số tiền là 5.300.000 đồng.
Trong cả sáu dây hụi trên, tuy để tên ông Đ và anh L làm chủ nhưng thực tế, trong các dây hụi này, cả hai cùng mở hụi chung và có trách nhiệm chung đối với các hụi viên. Trong quá trình giao dịch, chị V là vợ anh L là người đi gom tiền hụi cho ông Đ, anh L còn bà C là vợ của ông Đ và việc ông Đ, anh L mở hụi mục đích để sử dụng sinh hoạt chung trong gia đình. Do đó, bà yêu cầu ông Đ cùng bà C, chị V và anh L cùng có trách nhiệm trả cho bà hết một lần số tiền hụi còn nợ là 753.150.000 đồng (bảy trăm năm mươi ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) mà không tách trách nhiệm riêng lẽ của ông Đ, anh L theo từng dây hụi. Ngoài ra, bà T không yêu cầu gì khác.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, ông Huỳnh Văn Đ (bị đơn) trình bày:
Ông thừa nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị T về thời gian mở hụi, thời gian khui hụi, loại hụi, số hụi viên tham gia và số dây hụi, số chân hụi còn sống, hụi mua mà bà T tham gia, thời gian đình hụi và số kỳ hụi bà T đóng hụi trong sáu dây hụi là đúng. Tại tòa, ông Đ thừa nhận ông cùng anh L có nợ bà T tổng số tiền 753.150.000 đồng nhưng trong số tiền trên, ông cùng anh L xin trả lại bằng số tiền thực đóng đối với những chân hụi bà T trực tiếp chơi với số tiền đã góp là 185.244.000 đồng và đồng ý với việc bà T chỉ tính hụi mua bằng với giá tại thời điểm mua hụi là 457.890.000 đồng. Tổng số tiền ông cùng anh L đồng ý trả cho bà T là 643.134.000 đồng nhưng do đang gặp khó khăn, nên xin chậm lại chờ ông bán được đất sẽ thanh toán cho bà T số tiền còn nợ nêu trên.
Tại bản tự khai ngày 06/9/2024 và biên bản ghi ý kiến ngày 06/9/2024, bà Nguyễn Thị C (bị đơn) trình bày:
Bà với ông Huỳnh Văn Đ là vợ chồng, nhưng trong cuộc sống vợ chồng xãy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, tính tình không hòa hợp nên cả hai quyết định sống ly thân mà không khởi kiện ra Tòa để giải quyết ly hôn và bà với ông Đ đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, cuộc sống nạnh ai nấy lo nên việc ông Đ cùng con trai là Huỳnh Văn L tổ chức mở hụi thì bà không biết, bà không biết ông Đ, anh L mở bao nhiêu dây hụi, mở vào thời gian nào, có bao nhiêu người chơi và bà cũng không tham gia cùng ông Đ, anh L đi gom hụi hay chung hụi cho hụi viên. Từ khi sống ly thân, bà chung sống cùng mẹ ruột và tự làm, tự lo cho bản thân chứ không nhận bất cứ khoản tiền nào từ ông Đ, anh L. Do đó, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bà cùng với ông Đ, anh L và chị V có trách nhiệm trả tiền hụi cho bà T thì bà không đồng ý, bà không có trách nhiệm gì trong giao dịch hụi với bà T cũng như các hụi viên khác và xin vắng mặt trong các lần Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
Tại bản tự khai ngày 06/9/2024, anh Huỳnh Văn L (bị đơn) trình bày:
Anh thừa nhận việc bà T có tham gia chơi và mua hụi trong các dây hụi trên. Nay anh đồng ý trả số tiền hụi mua và hụi bà T trực tiếp chơi với số tiền là 643.134.000 đồng. Hiện do tình trạng sức khỏe không được tốt, điều kiện đi lại khó khăn nên anh L xin vắng mặt trong các lần Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
Tại bản tự khai ngày 06/9/2024 và biên bản ghi ý kiến ngày 06/9/2024, chị Võ Cẩm V (bị đơn) trình bày:
Chị có biết việc cha chồng là ông Huỳnh Văn Đ cùng chồng là anh Huỳnh Văn L mở hụi và biết có bà Nguyễn Thị T tham gia chơi hụi nhưng không biết bà T tham gia bao nhiêu chân hụi. Quá trình giao dịch hụi giữa ông Đ, anh L với bà T thì chị không tham gia giao dịch, không đi gom tiền hụi, không trực tiếp thỏa thuận hay đối chiếu nợ với bà T. Nay bà T khởi kiện chị cùng ông Đ, anh L và bà C cùng có trách nhiệm trả nợ hụi thì chị không đồng ý và xin vắng mặt trong các lần Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- [1] Về tố tụng, anh Huỳnh Văn L cùng chị Võ Cẩm V và bà Nguyễn Thị C (bị đơn) đã có lời khai và có ý kiến xin vắng mặt trong các lần Tòa án hòa giải, xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc xin vắng mặt trên và tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
- [2] Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng về hụi. Quá trình thực hiện thỏa thuận về hụi, bị đơn đã đình hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền hụi đã góp, tiền hụi đã mua cho nguyên đơn, nên giữa các đương sự xảy ra tranh chấp.
- [3] Xét nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng việc mở các dây hụi vào ngày 06/01/2021 (âm lịch viết tắt AL), ngày 10/5/2021 (AL), ngày 15/10/2021 (AL), ngày 10/01/2023 (AL), ngày 15/4/2023 (AL) và ngày 10/01/2024 (AL), giữa các đương sự tuy không đăng ký với chính quyền địa phương nhưng có lập danh sách hụi viên, được các đương sự thừa nhận về thời gian mở hụi, thời gian khui hụi, loại hụi, số hụi viên tham gia, số chân hụi nguyên đơn tham gia, số kỳ hụi nguyên đơn đã đóng hụi, số chân hụi nguyên đơn đã mua và thời gian bị đơn đình hụi là sự thật nên không phải chứng minh.
- [4] Xét thấy việc bị đơn yêu cầu trả số tiền thực tế nguyên đơn đã đóng trong các dây hụi nêu trên là chưa có cơ sở bởi các dây hụi trên bị đơn tuyên bố đình hụi, không phải là vỡ hụi. Dù rằng bị đơn cung cấp danh sách từng kỳ hụi khui, số tiền hụi bỏ, hụi đóng của từng kỳ nhưng danh sách này được lập khi các hụi việc thực hiện việc khởi kiện. Hơn nữa, bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh từng kỳ khui hụi, họ tên hụi viên ở từng kỳ hốt hụi nên chưa đủ cơ sở xác định số tiền thực đóng của nguyên đơn đúng với số tiền bị đơn trình bày trong khi bị đơn thừa nhận khi bị đơn tuyên bố đình hụi, một số hụi viên đã hốt hụi phải đóng lại hụi chết đã cùng với một số hụi viên có hụi còn sống và bị đơn thỏa thuận thống nhất đối trừ số tiền hụi chết phải đóng lại cho bị đơn để trả cho hụi viên còn hụi sống, riêng một số hụi viên còn nợ tiền hụi chết bị đơn sẽ khởi kiện đòi lại số tiền hụi chết chưa đóng để trả cho các hụi viên khác. Do đó, cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền hụi sống bằng với số tiền hụi chết là phù hợp.
- [5] Về trách nhiệm thanh toán nợ, các dây hụi mở ngày 06/01/2021 (AL), ngày 10/5/2021 (AL), ngày 15/10/2021 (AL), ngày 10/01/2023 (AL) do ông Huỳnh Văn Đ làm chủ còn dây hụi mở ngày 15/4/2023 (AL) và ngày 15/4/2023 (AL) do anh Huỳnh Văn L làm chủ nhưng cả hai dây hụi này thực tế cả hai cùng làm chủ, cùng có trách nhiệm với hụi viên nên trong dây hụi của ông Đ làm chủ, anh L cũng có quyền thỏa thuận việc mua bán hụi với nguyên đơn và tại phiên tòa, ông Đ cũng thống nhất cùng liên đới trả nợ cho nguyên đơn. Do đó, ông Đ và anh L cùng có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ hụi cho nguyên đơn mà không phải phân định nghĩa vụ trả nợ riêng lẽ của từng người theo từng dây hụi là có căn cứ.
Đối với bà Nguyễn Thị C, tuy nguyên đơn có yêu cầu bà C cùng có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi nêu trên nhưng nguyên đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ để chứng minh quá trình giao dịch hụi bà C có tham gia giao dịch cùng ông Đ, anh L, chị V và nguyên đơn trong khi bà C không thừa nhận, không đồng ý trả nợ. Mặc dù, bà C với ông Đ là vợ chồng nhưng trên thực tế ông, bà đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, cuộc sống nạnh ai nấy lo nên việc nguyên đơn yêu cầu bà C cùng có trách nhiệm trả nợ là chưa đủ cơ sở để chấp nhận.
Riêng chị Võ Cẩm V là vợ anh L, sống cùng nhà với ông Đ, anh L và việc anh L, ông Đ mở hụi chị có biết. Tuy chị không tham gia gom hụi, thỏa thuận về hụi với nguyên đơn nhưng trong các dây hụi trên chị có tham gia gom hụi, tính toán tiền hụi với các hụi viên khác. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, chị V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đây là nợ riêng của anh L, ông Đ hoặc giữa vợ chồng chị có thỏa thuận bằng văn bản được công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền về việc thỏa thuận làm ăn, kinh doanh riêng và tự chịu trách nhiệm riêng đối với khoản nợ trên trong khi giữa anh L cùng chị vẫn tồn tại mối quan hệ vợ chồng nên buộc chị V cùng có trách nhiệm với ông Đ, anh L trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ.
- [6] Về thời gian và phương thức thanh toán nợ, Hội đồng xét xử xét thấy do các đương sự không thỏa thuận được với nhau và việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
- [7] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu số tiền 34.126.000 đồng nên ông Đ, anh L và chị V mỗi người phải nộp số tiền 11.375.000 đồng nhưng do ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên xét miễn án phí cho ông Đ còn chị V, anh L phải nộp. Đối với nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại toàn bộ cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 468, 471 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.
Buộc ông Huỳnh Văn Đ, anh Huỳnh Văn L và chị Võ Cẩm V cùng có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 753.150.000 đồng (bảy trăm năm mươi ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Huỳnh Văn Đ cùng anh Huỳnh Văn L, chị Võ Cẩm V không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Ông Huỳnh Văn Đ là người cao tuổi, nên được miễn nộp án phí theo quy định.
Anh Huỳnh Văn L và chị Võ Cẩm V, mỗi người phải nộp số tiền án phí là 11.375.000 đồng (mười một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng – chưa nộp).
Bà Nguyễn Thị T không phải chịu. Ngày 09/7/2024, bà T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 17.203.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm lẻ ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003691 được trả lại toàn bộ cho bà T.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
Bản án số 211/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hđ về hụi
- Số bản án: 211/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp HĐ về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bàT yêu cầu ông Đ cùng bà C, chị V và anh L cùng có trách nhiệm trả cho bà hết một lần số tiền hụi còn nợ là 753.150.000 đồng (bảy trăm năm mươi ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) mà không tách trách nhiệm riêng lẽ của ông Đ, anh L theo từng dây hụi.
