TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2024/HS - ST Ngày 06 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thu Hà – ông Trần Xuân Giới
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1986; tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Đàm Thị Đ (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H; có 03 con; tiền án: không có; Tiền sự: ngày 11/02/2018, bị Công an huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khoẻ của người khác”. Chưa nộp phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh; có mặt.
Người làm chứng: Anh Lê Đức A, anh Hà Thế A1 và anh Nguyễn Quang H1 – đều vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 12/8/2023, tại đoạn đường K 106+500, Quốc lộ A, thuộc tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H, Tổ công tác của Công an thành phố H tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô trên địa bàn thành phố H ra tín hiệu dừng xe ô tô nhãn hiệu Ford, loại 16 chỗ, biển kiểm soát (BKS) 15B-025.19 do Phạm Văn T điều khiển, vì lỗi “không có phù hiệu theo quy định”. Khi bị kiểm tra, T xuất trình 01 Giấy phép lái xe (GPLX) hạng D, số: [...], ghi do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/5/2023, có giá trị đến ngày 05/5/2028, mang tên: Phạm Văn T. Qua kiểm tra, Tổ công tác nghi ngờ là giấy phép lái xe giả nên đã tạm giữ Giấy phép lái xe nêu trên cùng 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô, số: 034406; ghi do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H cấp ngày 05/12/2014; 01 chiếc xe ô tô khách, nhãn hiệu: Ford, số loại: Transit, số máy: RATORQ4D243H; số khung: TGMCRBR33532, số chỗ ngồi: 16, biển số đăng ký: 15B-025.19 và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Phạm Văn T khai nhận: T có Giấy phép lái xe hợp lệ hạng B2 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 16/01/2013. T sử dụng GPLX này làm công việc lái xe taxi thuê tại thành phố Hải Phòng. Đến khoảng tháng 5 năm 2023, do công việc lái xe taxi ít khách, thu nhập thấp nên Trung nghỉ và muốn xin việc làm lái xe chở khách thuê. T biết rõ để đủ điều kiện lái xe khách trên 09 chỗ đến 30 chỗ ngồi, thì phải học, thi nâng hạng lên GPLX hạng D. Qua tìm hiểu, T biết để được thi GPLX hạng D phải có thời gian học nhất định và chi phí nhiều, nên nảy sinh ý định tìm mua GPLX giả để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng đầu tháng 6 năm 2023, khi đang ở nhà, T sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Thư Trung” của mình, liên hệ với một tài khoản khác (không xác định được thông tin, lai lịch) để đặt mua 01 GPLX hạng D kèm theo 01 bộ hồ sơ gồm: giấy khám sức khỏe, biên bản thi đỗ sát hạch và chứng chỉ xác nhận đỗ sát hạch giả. Sau đó, T được tài khoản trên thông báo: mức giá làm giả GPLX và cả bộ hồ sơ như yêu cầu là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng); khi nhận thì trực tiếp thanh toán tiền mặt cho nhân viên giao hàng, T đồng ý. T sử dụng điện thoại chụp căn cước công dân, ảnh chân dung của mình, đồng thời cung cấp thông tin địa chỉ nhận hàng cho người sử dụng tài khoản Facebook nêu trên. Sau khoảng 10 ngày, khi đang ở nhà thì T được 01 nam nhân viên giao hàng (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến giao 01 bưu kiện; kiểm tra gói hàng gồm 01 (một) GPLX giả hạng D, số: [...], ghi do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/5/2023, có giá trị đến ngày 05/5/2028, mang tên: Phạm Văn T; 01 (một) chứng chỉ sơ cấp có đóng dấu tròn đỏ ghi “Trung tâm sát hạch và cấp giấy phép lái xe Nam Triệu”; 01 (một) biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe đóng dấu tròn đỏ ghi “Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe Sở Giao thông vận tải thành phố H”; 01 (một) giấy khám sức khỏe của người lái xe đóng dấu tròn đỏ ghi “Giám định y khoa bệnh viện GTVT TW”. Sau khi kiểm tra thấy đúng với thông tin của mình, T đã thanh toán số tiền 16.000.000 đồng cho người giao hàng, rồi cất giấu toàn bộ giấy tờ trên tại nhà riêng. Đến ngày 12/7/2023, T gặp anh Lê Đức A để xin làm công việc lái xe vận tải hành khách (loại xe 16 chỗ ngồi). Lúc này, T đưa cho anh Đức A xem 01 Giấy phép lái xe hạng D, số: [...], ghi do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/5/2023, có giá trị đến ngày 05/5/2028, mang tên: Phạm Văn T, để anh Đức A tin tưởng, thuê mình làm công việc lái xe. Do tin Giấy phép lái xe của T là hợp lệ, nên anh Đức A đồng ý thuê T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford, loại 16 chỗ, biển kiểm soát (BKS) 15B-025.19 để vận tải hành khách với mức lương theo thoả thuận miệng là 400.000 đồng/ngày công. Sau đó, trong quá trình điều khiển xe lưu thông trên đường, T thường xuyên mang theo GPLX giả với mục đích xuất trình khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, tuy nhiên T chưa bị xử lý vi phạm về lĩnh vực an toàn giao thông lần nào kể từ khi sử dụng GPLX giả. Đến 16 giờ 15 phút, ngày 12/8/2023, khi T điều khiển xe nêu trên đi từ huyện V, tỉnh Quảng Ninh về thành phố Hải Phòng, đến đoạn Km 106+500, Quốc lộ A, thuộc tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H thì bị Tổ công tác của Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện.
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra T giao nộp: 01 (một) Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, số báo danh: 08, họ và tên thí sinh: Phạm Văn T, sinh ngày 20/8/1986, nơi cư trú: H, Đ, Hải Phòng, đóng dấu tròn đỏ ghi “Trung tâm dạy nghề đào tạo và sát hạch lái xe Sở Giao thông vận tải thành phố H”, không đề ngày tháng năm; 01 (một) Giấy khám sức khỏe của người lái xe, số: 1405/GKSKLX, không đề Họ và tên và ngày tháng năm cấp; Được đóng dấu màu xanh “ÂM TÍNH” và “HÌNH TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG”; đóng dấu tròn đỏ “GIÁM ĐỊNH Y KHOA; BỆNH VIỆN GTVT TW – BỘ Y TẾ”; 01 (một) Chứng chỉ sơ cấp, số hiệu: 0002183, đề ngày 05/05/2023, do Giám đốc Trung tâm S cấp cho Phạm Văn T; sinh ngày 20/8/1986; đã hoàn thành chương trình: Lái xe ô tô hạng D; từ ngày 05/12/2022 đến ngày 05/05/2023; xếp loại: Khá. T khai nhận GPLX và toàn bộ giấy tờ liên quan nêu trên là giả.
Tại bản Kết luận giám định số 1425/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 01 “Giấy phép lái xe” cần giám định là Giấy phép lái xe giả; Các hình dấu trong Giấy khám sức khỏe cần giám định so với hình dấu do Bệnh viện G cung cấp không phải do cùng một con dấu đóng ra; bản Giấy khám sức khỏe cần giám định so với bản in mẫu Giấy khám sức khỏe do Bệnh viện G cung cấp không phải do cùng các bản in tương ứng in ra; Các hình dấu trong Chứng chỉ sơ cấp cần giám định so với hình dấu do Trung tâm S cung cấp không phải do cùng một con dấu đóng ra; bản Chứng chỉ sơ cấp so với bản in mẫu Chứng chỉ sơ cấp do Trung tâm S cung cấp không phải do cùng các bản in tương ứng in ra.
Tại bản Kết luận giám định số 1283/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Số khung, số máy hiện tại của xe ô tô BKS 15B-025.19 cần giám định là số khung, số máy nguyên thủy.
Bản Cáo trạng số: 3551/CT-VKSHL ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1,3 Điều 35; của Bộ luật Hình sự, xử phạt: phạt tiền bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo để áp dụng cho bị cáo hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các bản Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng đầu tháng 06/2023, tại nhà riêng thuộc tổ dân phố Q, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng điện thoại di động vào mạng xã hội Facebook rồi cung cấp thông tin cá nhân của mình cho người không rõ nhân thân lai lịch, để đặt làm 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng D; 01 (một) Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe; 01 (một) Giấy khám sức khỏe của người lái xe; 01 (một) Chứng chỉ sơ cấp giả. Sau đó, T sử dụng Giấy phép lái xe giả để lái xe thuê và xuất trình cho lực lượng chức năng khi bị kiểm tra. Đến 16 giờ 15 phút, ngày 12/8/2023, khi T đang điều khiển xe ô tô khách 16 chỗ, nhãn hiệu Ford Transit, BKS 15B-025.19 đến đoạn Km 106+500, Quốc lộ A, thuộc tổ I, khu Đ, phường H, thành phố H thì bị Tổ công tác do Đ1 - trật tự Công an thành phố H chủ trì kiểm tra phát hiện, thu giữ giấy phép lái xe giả.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội lần đầu, tại phiên tòa bị cáo ăn năn, hối cải và hứa quyết tâm sửa chữa trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang là lao động chính, nuôi ba con còn rất nhỏ để áp dụng cho bị cáo hình phạt ở mức thấp nhất.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản của vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô, số: 034406; ghi do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố H cấp ngày 05/12/2014; 01 chiếc xe ô tô khách, nhãn hiệu: Ford, số loại: Transit, số máy: RATORQ4D243H; số khung: TGMCRBR33532, số chỗ ngồi: 16, biển số đăng ký: 15B-025.19 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Đức A nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 GPLX hạng D, số: [...], ghi do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/5/2023, có giá trị đến ngày 05/5/2028, mang tên: Phạm Văn T; 01 (một) Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, 01 (một) Giấy khám sức khỏe của người lái xe; 01 (một) Chứng chỉ sơ cấp, số hiệu: 0002183, đề ngày 05/05/2023, do Giám đốc Trung tâm S cấp là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên lưu trữ theo hồ sơ vụ án.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt là phạt tiền nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo.
[9] Các vấn đề khác: đối với tài khoản Facebook Phạm Văn Trung liên L để làm giấy phép lái xe giả, hiện không làm rõ được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: phạt tiền bị cáo Phạm Văn T 30.000.0000 đồng (Bằng chữ: ba mươi triệu đồng) về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” sung Ngân sách Nhà nước.
* Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 156/2024/LCĐKNCT – TA ngày 14/8/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 270/2024/HSST – THXC ngày 14/8/2024 đối với bị cáo Phạm Văn T.
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000₫ (Bằng chữ: hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 211/2024/HS - ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 211/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T sử dụng tài liệu giả
