|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 217/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Đức.
- Ông Vũ Tiến Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đình S, sinh ngày 02/5/1991, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Đình C và bà Vũ Thị T; Có vợ là Lê Thị Thu H (đã ly hôn), có 03 con. Tiền án: Không.
Nhân thân: Năm 2012 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 49 ngày 06/3/2012, Quyết định khởi tố bị can số 164 ngày 20/7/2012 về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự số 05, Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can số 05 cùng ngày 17/10/2012 (lý do: bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 243 ngày 01/9/2014 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 21/11/2014. Ngày 26/5/2024 có hành vi cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản bị Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 187 ngày 28/8/2024 bằng hình thức phạt tiền 10.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 04/9/2024.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/8/2024 đến 21/8/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- + Anh Phạm Ngọc B, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
- + Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số nhà D, ngõ C, đường L, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
- + Anh Phạm Văn H2, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
- + Anh Hà Văn M, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 11/8/2024 Phạm Đình S ra khu vực cầu P, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, mục đích mua ma túy về để bản thân sử dụng. Tại đây, S đã gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 túi ma túy Ketamine giá 2.000.000 đồng và 01 túi chứa 05 viên ma túy kẹo giá 1.000.000 đồng. S mang ma túy về nhà, lên phòng ngủ tầng hai lấy túi Ketamine chia một ít vào 01 túi nilon nhỏ khác. S cất túi ma túy Ketamine nhỏ và túi ma túy kẹo vào trong túi áo để trong phòng, còn túi ma túy Ketamine ban đầu S cất vào trong tủ quần áo. Tối ngày 14/8/2024 S lấy số ma túy trong túi áo rồi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển số 17A - 418.49 sang xã Đ, thành phố T tìm nơi để sử dụng nhưng không tìm thấy nên S đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày khi S đang dừng xe ô tô trước cửa nhà thì bị tổ công tác Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc B và anh Dương Ngọc H1, S tự giác lấy từ trong túi quần trái phía trước giao nộp cho tổ công tác 01 túi linon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 viên nén màu vàng, 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng. S khai nhận đó là ma tuý, loại MDMA và Ketamine, S mua về mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong ma tuý có chữ ký của S và những người chứng kiến. Sau đó tổ công tác yêu cầu S và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường H, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Đình S tại tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, thu giữ tại ngăn kéo tủ quần áo trong phòng ngủ tầng hai 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. S khai nhận đó là ma túy, loại Ketamine, S mua về mục đích sử dụng cho bản thân.
Bản Kết luận giám định số 1270/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật M1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 2,0411 gam. Mẫu vật M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. có khối lượng 0,9335 gam. Mẫu vật quản lý khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Đình S là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 3,4342 gam. MDMA STT:11 Danh mục 1B phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ; Ketamine STT: 40 Danh mục III phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ”.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh Phạm Ngọc B, anh Dương Ngọc H1, anh Phạm Văn H2 và anh Hà Văn M đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 216/CT - VKSTPTB ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024. Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 5 đến 7 triệu đồng. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 1,2153 gam ma túy loại MDMA và 3,9863 ma tuý loại Ketamine hoàn trả sau giám định. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone vỏ màu tím, 01 điện thoại Samsung vỏ màu xanh đều đã cũ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng do Công an thành phố T lập ngày 14/8/2024 tại trụ sở Công an phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 1270/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 22 giờ ngày 14/8/2024, tại khu vực đường V, tổ F, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Đình S đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại MDMA, có khối lượng 2,0411 gam, 01 túi ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,9335 gam và cùng ngày, qua khám xét, Phạm Đình S tàng trữ tại chỗ ở 3,4342 gam ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng ma túy loại Ketamine Sơn tàng trữ là 4,3677 gam mục đích S tàng trữ toàn bộ số ma tuý trên để sử dụng cho bản thân.
[3] Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;... i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này; ……… ”. Hành vi của bị cáo tàng trữ 2,0411 gam ma túy loại MDMA và 4,3677 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân (tính quy đổi theo Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì chưa vượt quá 100%), nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần vi phạm pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như Kiểm sát viên đề nghị mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo để tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Đối với 01 điện thoại Iphone vỏ màu tím, 01 điện thoại Samsung vỏ màu xanh đều đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng, biển số 17A - 418.49, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Phạm Đình C (bố đẻ bị cáo), bị cáo mượn đi ông C không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả cho ông C là phù hợp nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người nam giới tại khu vực cầu P, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đình S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 1,2153 gam ma túy loại MDMA; 0,8136 gam và 3,1727 gam ma tuý loại Ketamine và toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 03 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1270/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh T; Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone vỏ màu tím, 01 điện thoại Samsung vỏ màu xanh đều đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 30/10/2024).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/11/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 217/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 217/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 22 giờ ngày xx/xx/2024, tại khu vực phường H, thành phố T, tỉnh T. Phạm Đình S đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại MDMA, có khối lượng 2,0411 gam, 01 túi ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,9335 gam và cùng ngày, qua khám xét, Phạm Đình S tàng trữ tại chỗ ở 3,4342 gam ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng ma túy loại Ketamine mà S tàng trữ là 4,3677 gam mục đích S tàng trữ toàn bộ số ma tuý trên để sử dụng cho bản thân.
