TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 211/2024/HSPT Ngày: 17/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Bà Lê Thị Ký
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà
Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên
Ngày 13 và ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Võ Thị Bích T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 192/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thị Bích T (tên gọi khác: không), giới tính: Nữ.
Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1989 tại An Giang.
HKTT: Thôn Phong Lan, xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: 2810, ấp T, xã H 3, huyện T, Đồng Nai.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.
Con ông: Võ Văn T1, sinh năm 1945; Con bà: Dương Thị Đ, sinh năm 1944.
Chồng: Lê Bá Đ1, sinh năm 1984; Có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 21/9/2022, đến ngày 04/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh – Có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo Lê Thị Trúc L, Phan Thị Kim T2 và Trương Thị Huỳnh A nhưng không kháng cáo, không kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Lê Thị Trúc L, Phan Thị Kim T2, Võ Thị Bích T và Trương Thị Huỳnh A là nhân viên của tiệm cắt tóc nam “My M” tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vào Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 20/9/2022, L rủ T2 sử dụng ma túy, lúc này T ngồi gần nên nghe và nói với Ly T3 và T2 sẽ góp tiền mua ma túy về để cả nhóm sử dụng thì nên T3 đồng ý, sau đó T2 góp 900.000 đồng, T3 góp 280.000 đồng, tổng cộng được 1.180.000 đồng, sau đó T3 đưa cho Huỳnh A và nói Huỳnh A liên hệ mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Huỳnh A cầm tiền và dùng điện thoại iphone 13 Promax màu trắng, có sim số 0903.347.528 liên lạc với T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy khay và 01 (một) viên ma túy kẹo với giá 1.180.000 đồng, Tiên đồng ý và hẹn sẽ mang ma túy đến giao cho Huỳnh A. Sau đó L lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, sử dụng đầu lọc thuốc lá để cuộn lại thành ống hút và để trong phòng mục đích là để làm dụng cụ sử dụng ma tuý tổng hợp dạng khay rồi đi sang phòng khác ngủ, còn T2 đi xuống bếp lấy 01 (một) dĩa sứ màu trắng để ở trong phòng. Khoảng 23 giờ 30 ngày 20/9/2022, T4 đem ma túy đến giao, Huỳnh A đưa tiền cho T3 để T3 nhận và trả tiền mua ma túy, đồng thời nói T3 để tiền ở chậu cây cảnh trước quán và lấy ma tuý vào để cả nhóm sử dụng, T3 đi ra trước quán thấy 01 (một) gói ma túy khay và 01 (một) viên ma túy kẹo ở chậu cây cảnh lên cầm lấy và để lại tiền trên chậu cây cảnh rồi đi vào phòng bỏ ma túy trên dĩa sứ. Đến khoảng 00 giờ 30 ngày 21/9/2022 Huỳnh A, T2, T3 bắt đầu sử dụng ma túy, T3 dùng kéo cắt viên ma tuý dạng kẹo thành 04 (bốn) phần. Huỳnh A, T2, T3 sử dụng hết 3 (ba) phần, còn lại một phần để lại trên dĩa sứ để cho L, sau đó Huỳnh A đổ ma túy khay lên dĩa sứ rồi dùng thẻ nhựa cứng màu đen cà khay cho nhuyễn thành dạng bột và nấu khay sau đó cùng nhau sử dụng, T3 gọi L dậy cùng sử dụng ma tuý, L vào phòng sử dụng ¼ (một phần tư) viên ma tuý kẹo màu tím còn lại và dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đã cuộn tròn thành ống hút để sử dụng ma tuý khay. Đến 02 giờ 15 phút ngày 21/9/2022, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy và nằm nghe nhạc thì bị bắt quả tang.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) dĩa sứ màu trắng bên trên có chất màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu đen dính chất màu trắng, 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) cuộn tròn thành ống hút dính chất màu trắng và 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng (là chất bột thu giữ trên dĩa sứ) được niêm phong vào 01 hộp giấy dán kín, ngoài hộp giấy có chữ ký của Lê Thị Trúc L, Trương Thị Huỳnh A, Võ Thị Bích T, Phan Thị Kim T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T.
- 01 (một) loa cầm tay màu trắng hiệu Su-Yoso và 01 (một) cái kéo.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu đen gắn sim số 0399.840.037; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax màu trắng gắn sim số 0903.347.528; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu vàng gắn sim số 0343.801.429; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu vàng gắn sim số 0908.212.386 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh không gắn sim (tất cả đều đã qua sử dụng).
Tại bản Kết luận giám định số 2029/KLGĐ-PC09 ngày 28/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng (Kí hiệu M1) dính trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu đen và 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại: Ketamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.
- - Mẫu chất màu trắng (Kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,7125 gam loại: Ketamine.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sự sơ thẩm 192/2023/HSST ngày 14/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Thị Bích T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị áp giải thi hành án phạt tù, trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến ngày 04/01/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Lê Thị Trúc L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, Phan Thị Kim T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, Trương Thị Huỳnh A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 25/9/2023, bị cáo Võ Thị Bích T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về thủ tục: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo của bị cáo: Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo xử phạt bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là hiện đang mang thai. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 21/9/2022 tại quán T5 "My M" thuộc ấp T - xã H 3 - huyện T - tỉnh Đồng Nai, Lê Thị Trúc L rủ bị cáo và Phan Thị Kim T2 sử dụng ma túy. Bị cáo và T2 đã góp tiền đưa cho Trương Thị Huỳnh A mua 01 gói ma túy khay và 01 viên ma túy kẹo ( loại Ketamine có khối lượng 0,7125) về sử dụng chung . Trong đó L là người khởi xướng, T và T2 là người góp tiền để Huỳnh A mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Sau đó, đến khoảng 02 giờ 15 phút ngày cùng ngày, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy và nằm nghe nhạc thì bị bắt quả tang.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó L là người khởi xướng, rủ rê; T và T2 là người góp tiền để Huỳnh A mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Vì vậy, cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn làm mất trật tự xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng.
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù là phù hợp.
- Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Xét bị cáo có nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội do bị rủ rê, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng và cha mẹ già thường xuyên đau ốm, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bản thân bị cáo cũng có triệu chứng và đang phải điều trị giai đoạn sớm của bệnh ung thư cổ tử cung. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới là hiện nay đang mang thai 15 tuần, vì vậy Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về án phí:
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Bích T, sửa một phần bản án sơ thẩm số 192/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom do có tình tiết mới.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Thị Bích T 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án, được trừ đi thời gian đã bị giam giữ từ ngày từ ngày 21/9/2022 đến ngày 04/01/2023.
- Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Lan Hương |
Bản án số 211/2024/HSPT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 211/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 25/9/2023, bị cáo Võ Thị Bích Tuyền kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
