Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 211/2024/DS-ST

Ngày: 14-08-2024

V/v “tranh chấp hợp đồng

cầm cố quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Phương
  2. Ông Đặng Anh Đoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp cầm cố quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 390/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy T, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Quách Thanh P, sinh năm 1977; địa chỉ: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang là đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 25/6/2024), có đơn xin vắng mặt;

  1. Bị đơn:
  1. Ông Lê Nhựt N (N1), sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt);
  2. Lê Trần Cẩm N2, sinh năm 1966 (có mặt);
  3. Ông Lê Hoàng Vĩnh T1, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang;

  1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T2 (H), sinh năm 1980; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Quách Thanh P trình bày:

Ngày 23/12/2018 ông Nguyễn Huy T có nhận cầm cố quyền sử dụng đất của ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 với diện tích 2.000m², với giá 30 chỉ vàng 24 kara, thời hạn cầm cố 02 năm (2018-2019) là 06 mùa vụ, phía ông N3 đã nhận vàng, ông T đã nhận đất canh tác. Đến thời hạn hợp đồng, phía ông N3, bà N2, ông T1 không trả vàng cố đất. Vì vậy, ông T yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả 30 chỉ vàng 24 kara, ông Tâm g trả diện tích đất lại cho ông N3, bà N2, ông T1.

Bị đơn ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày, bị đơn thừa nhận vào ngày 23/12/2018 có ký hợp đồng cố đất ruộng cho ông Nguyễn Huy T, với diện tích 2000m², quyền sử dụng đất do ông N3, N2 đứng tên, với giá 30 chỉ vàng 24 kara, thời hạn cố 06 vụ (năm 2018-2019) mỗi canh tác 03 vụ. Nay đã quá thời hạn hợp đồng cầm cố nhưng bị đơn chưa có điều kiện hoàn trả 30 chỉ vàng 24 kara cho ông T, nên đề nghị ông T tiếp tục canh tác đất, khi nào gia đình bị đơn có kiều kiện kinh tế thì hoàn trả 30 chỉ vàng 24 kara cho ông T và nhận lại đất.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T2 trình bày, bà T2 với ông T là vợ chồng, bà T2 thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, và có yêu cầu xin vắng mặt.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn ông N3(Nẩm), ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy T đối với ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1.

Tuyên hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất lập ngày 23/12/2018 giữa ông Nguyễn Huy T đối với ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 là vô hiệu

Buộc ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Huy T 30 chỉ vàng 24 kara.

Buộc ông Nguyễn Huy T có nghĩa vụ giao trả diện tích đất 2044,4m² theo sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH Đ lập ngày 24/7/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện P. Nên, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo thẩm quyền tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: ông Lê Nhựt N3, ông Lê Hoàng Vĩnh T1, bà Lê Thị T2, ông Quách Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà có tên nêu trên.

[2] Về nội dung vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, giữa đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn thừa nhận có xác lập hợp đồng cầm cố đất lập ngày 23/12/2018 với nội dung cụ thể như sau: Nguyên đơn nhận cầm cố quyền sử dụng đất của bị đơn với diện tích 2000m² đất tọa lạc ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang với giá 30 chỉ vàng 24 kara, thời hạn cố là 02 năm (2018-2019), ông N3 đã nhận vàng, ông T đã nhận đất canh tác, hiện nay đã hết thời hạn cầm cố đất nhưng phía bị đơn không hoàn trả 30 chỉ vàng 24 kara. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu hợp đồng cầm cố đất vô hiệu, buộc bị đơn trả 30 chỉ vàng 24 kara, nguyên đơn trả đất cho bị đơn.

Xét, về hợp đồng cầm cố đất giữa ông Nguyễn Huy T với ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 thì thấy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất chỉ có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ, góp vốn QSDĐ.

Ngoài các quyền giao dịch trên thì các giao dịch khác về đất đai đều trái quy định của pháp luật. Việc nguyên đơn với bị đơn thỏa thuận cầm cố đất là trái với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng cầm cố đất trên bị vô hiệu nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên theo quy định tại Điều 123 và Điều 131 Bộ Luật dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Huy T, buộc ông Lê Nhựt N3, Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 có trách nhiệm liên đới trả 30 chỉ vàng 24 kara cho ông Nguyễn Huy T. Buộc ông T có nghĩa vụ giao trả diện tích đất 2044,4m² theo các mốc điểm 11,10,9,5,4,3,2 của sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH Đ lập ngày 24/7/2024.

[3] Chi phí tố tụng: chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản là 5.641.760 đồng nguyên đơn đã nộp, do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng cho nguyên đơn

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn
  • Bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng đối với hợp đồng cầm cố đất vô hiệu, và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả vàng cố đất là (giá vàng 24 kara ngày 14/08/2024 là 7.500.000/chỉ) 7.500.000 đồng x 30 chỉ = 225.000.000 đồng x 5% = 11.250.000 đồng, tổng cộng án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 11.550.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 123; Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015;

Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Huy T

Tuyên bố hợp đồng cầm cố đất lập ngày 23/12/2018 giữa ông Nguyễn Huy T với ông Lê Nhựt N3 (Nẩm), Lê Trần Cẩm N2, Lê Hoàng Vĩnh T1 là vô hiệu.

Buộc ông Lê Nhựt N3 (Nẩm), bà Lê Trần Cẩm N2, ông Lê Hoàng Vĩnh T1 có trách nhiệm liên đới trả 30 chỉ vàng 24 kara cho ông Nguyễn Huy T.

Buộc ông Nguyễn Huy T có nghĩa vụ giao trả diện tích đất 2044,4m² theo các mốc điểm 11,10,9,5,4,3,2 của sơ đồ đo đạc do Công ty TNHH Đ lập 24/7/2024.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Chi Phí tố tụng: Ông Lê Nhựt N3 (Nẩm), bà Lê Trần Cẩm N2, ông Lê Hoàng Vĩnh T1 phải hoàn trả 5.641.760 đồng tiền chi phí đo đạc, chi phí thẩm định và định giá tài sản cho ông Nguyễn Huy T.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Nhựt N3 (Nẩm), bà Lê Trần Cẩm N2, ông Lê Hoàng Vĩnh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.550.000 đồng.

Hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Huy T theo biên lai thu số 0006997 ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 211/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng cầm cố đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger