|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 211/2024/DS-PT Ngày 11 tháng 9 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Huỳnh Thanh Tâm;
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy;
Bà Phạm Thị Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Mỹ Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 138/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 215/2024/QĐXXPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Trần Phát T, sinh năm 1991 (có mặt);
- Ông Kim Hải V, sinh năm 1992 (có mặt);
Cùng cư trú: F12/2, đường L, ấp F, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 18/10/2023.
2. Bị đơn:
- Ông A Do Ka R, sinh năm 1972 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1968 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 2003 (có mặt);
Cùng cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Đại diện hợp pháp của ông A Do Ka R, bà T1: ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 2003 cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền công chứng ngày 07/11/2023) (có mặt).
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1980, có ông Trần Phát T và ông Kim Hải V đại diện theo ủy quyền (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Do chỗ quen biết làm ăn nên vào ngày 8/9/2022 ông C, bà N có cho bị đơn vay số tiền 3.500.000.000 (ba tỷ năm trăm triệu) đồng, thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 20 năm. Quá trình vay tiền bị đơn không đóng lãi và nguyên đơn nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng bị đơn không thực hiện. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn gồm có ông A Do Ka Riêm, bà Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Tấn T2 cùng có trách nhiệm trả số tiền vốn vay 3.500.000.000 đồng và tiền lãi 385.000.000 đồng (từ ngày 08/9/2022 đến ngày 08/8/2023 với lãi suất 1%/tháng) và yêu cầu tính lãi cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Tờ cam kết ngày 8/9/2022 (bản chính) và hồ sơ vi bằng số 11/2024/VB-TPLBH ngày 30/01/2024.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông A Do Ka Riêm trình bày: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguyên đơn chưa từng giao tiền và bà T1 chưa từng nhận số tiền 3.500.000.000 đồng của nguyên đơn.
Đối với tờ cam kết ngày 8/9/2022, xác định người viết tờ cam kết là con của bà T1 là Nguyễn Tấn T2. T2 viết tờ cam kết này dựa vào bản nháp mà bà N đã soạn sẵn, sau đó cùng ký tên vào Tờ cam kết. Nhưng nội dung tờ cam kết ngày 8/9/2022 chỉ là sự hứa hẹn với nhau vào một ngày nào đó mà chưa ghi rõ trong bản cam kết nguyên đơn sẽ cho bà T1 vay số tiền 3.500.000.000 đồng, trong đó 1.600.000.000 đồng để chuộc sổ đỏ từ ngân hàng thì bị đơn sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà trên đất cho nguyên đơn; còn lại 1.900.000.000 đồng là số tiền cho vay và thỏa thuận lãi suất cho vay là 1%/tháng. Trong thời hạn 20 năm gia đình bà T1 trả đủ tiền vay thì ông C, bà N sẽ sang tên lại cho gia đình bà T1 hoặc muốn bán nhà thì nguyên đơn sẽ ra công chứng cho gia đình bà T1. Trong nội dung của Tờ cam kết ngày 8/9/2022, hoàn toàn không có một nội dung nào xác nhận nguyên đơn đã giao số tiền 3.500.000.000 đồng và bà T1 cũng chưa ký nhận là có nhận đủ tiền của nguyên đơn.
- Bị đơn ông Nguyễn Tấn T2 trình bày: Không chấp nhận toàn bộ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định Tờ cam kết ngày 8/9/2022, do chính ông T2 viết và ký tên. Nhưng nội dung do bà N đã soạn sẵn mẫu nháp, ông T2 chỉ viết theo. Ông T2 còn xác định cả gia đình chưa từng nhận số tiền 3.500.000.000 đồng của nguyên đơn. Tờ cam kết ngày 8/9/2022 có nội dung là có hẹn với nhau để thực hiện một số thỏa thuận chuyển nhượng nhà đất, vay tiền. Ngay cả hẹn ngày nào
trong Tờ cam kết còn để trống và hoàn toàn trong Tờ cam kết không hề có nội dung nào thể hiện nguyên đơn giao số tiền 3.500.000.000 đồng cho bị đơn và cũng không có nội dung nào thể hiện bị đơn nhận số tiền 3.500.000.000 đồng. Do đó, ông T2 cũng như với tư cách nhận uỷ quyền của ông A Do Ka R, bà T1 đều không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng N về việc yêu cầu bị đơn gồm có ông A Do Ka Riêm, bà Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Tấn T2 cùng có trách nhiệm trả số tiền vốn vay 3.500.000.000 đồng và tiền lãi 595.000.000 đồng (từ ngày 08/9/2022 đến ngày 26/02/2024) và yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 27/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/02/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và trình bày: Giấy cam kết ngày 08/9/2022 là Hợp đồng vay tài sản, trong đó xác định số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay và có chữ ký của tất cả bị đơn; Nguyên đơn đã nhắn tin yêu cầu bị đơn trả nợ và có đến nhà đòi nợ; bị đơn không chứng minh được việc không nhận tiền vay theo Giấy cam kết ngày 08/9/2022. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả tiền vay là 3.500.000.000 đồng và tiền lãi 1%/tháng từ ngày 08/9/2022 đến ngày xét xử.
Theo Vi bằng số 11/2024/VB-TPLBH ngày 30/01/2024 thì bà N có nhắn tin cho Tấn P là con của ông Ka R và bà T1 để yêu cầu chuyển trả tiền. Ông Tấn T2 cũng thừa nhận có tin nhắn gửi cho P nhưng cấp sơ thẩm không đưa tấn P vào tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không cho nguyên đơn đặt câu hỏi đối với bị đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; đề nghị hủy án sơ thẩm.
- Bị đơn ông Nguyễn Tấn T2: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử,
thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà N kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông C, bà N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông A Do Ka Riêm, bà T1 và ông T2 trả tiền vay 3.500.000.000 đồng và tiền lãi theo nội dung Bản cam kết ngày 08/9/2022 do chính ông T2 viết và ký tên cùng với ông Ka R, bà T1. Ngoài ra, nguyên đơn còn cung cấp Vi bằng số 11 lập ngày 30/01/2024, cho rằng bà N có nhắn tin yêu cầu bị đơn trả tiền vay. Về phía bị đơn thừa nhận có ký tên vào Bản cam kết ngày 08/9/2022 nhưng cho rằng sau khi thỏa thuận theo bản cam kết thì bà N và ông C không giao tiền để rút sổ đỏ và cho mượn thêm tiền như đã thỏa thuận.
Theo Bản cam kết ngày 08/9/2022 do phía nguyên đơn cung cấp thấy rằng, nội dung phía bị đơn cam kết với nguyên đơn là ra Ngân hàng rút sổ đất về công chứng chuyển nhượng cho ông C, bà N với số tiền 1.600.000.000 đồng và cho mượn thêm 1.900.000.000 đồng. Nội dung bản cam kết có đoạn: “tổng số tiền ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng N sau khi giúp tôi rút sổ từ ngân hàng và cho tôi mượn thêm tổng tất cả là 3.500.000.000 đồng và sẽ thu tiền lãi hàng tháng đúng với lãi suất của ngân hàng và nhà nước quy định...một chấm tương đương với 35.000.000 (ba mươi lăm triệu đồng) mỗi tháng....".
Theo nội dung bản cam kết thì không thể hiện ngày cụ thể để ra ngân hàng rút sổ đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn cũng không xác định ngày các bên thỏa thuận việc rút sổ đỏ từ ngân hàng.
Xét nội dung bản cam kết do nguyên đơn cung cấp, mặc dù do ông T2 viết và ký tên, lăn tay cùng với ông Ka R, bà T1 nhưng không thể hiện phía bị đơn đã nhận tiền như nguyên đơn trình bày. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn khai, mặc dù bản cam kết ghi sau khi rút sổ đỏ và ký hợp đồng chuyển nhượng đất thì cho mượn thêm 1.900.000.000 đồng nhưng trong ngày 08/9/2022 nguyên đơn đã giao đủ 3.500.000.000 đồng cho bị đơn là không phù hợp với nội dung bản cam kết.
Đối với chứng cứ nguyên đơn cung cấp, cho rằng có đến nhà bị đơn đòi tiền thể hiện qua tấm hình ảnh chụp cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm trong quá trình kháng cáo. Nhận thấy, hình ảnh không thể hiện được thời điểm chụp ảnh cũng như không có tài liệu chứng cứ thể hiện nội dung cuộc nói chuyện của những người có mặt nên không có căn cứ xác định có việc nguyên đơn gặp bị đơn đòi tiền theo hình ảnh nguyên đơn cung cấp. Ngoài ra, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là tin nhắn của bà N cho Tấn P (con bà T1) cũng không thể hiện số tiền phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả và không có nội dung trả lời của phía bị đơn nên không có căn cứ xác định bị đơn thừa nhận như nguyên đơn trình bày.
Với những chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, không có căn cứ xác định bị đơn có vay tiền và nợ nguyên đơn số tiền 3.500.000.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Bà N kháng cáo, cho rằng bản cam kết ngày 08/9/2022 là hợp đồng vay và bị đơn không chứng minh được việc không nhận tiền theo bản cam kết. Hội đồng xét xử thấy rằng, nội dung bản cam kết không thể hiện bị đơn đã nhận tiền vay nên nghĩa vụ chứng minh việc cho bị đơn vay tiền là thuộc về nguyên đơn. Bà N không cung cấp được chứng cứ nào khác nên cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N về việc sửa án sơ thẩm.
Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm để giải quyết lại do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không đưa Tấn P vào tham gia tố tụng; tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán chủ tọa không cho nguyên đơn đặt câu hỏi với bị đơn. Xét thấy, người tên Tấn P trong nội dung tin nhắn do bà N cung cấp không liên quan đến nội dung cam kết (theo Bản cam kết ngày 08/9/2022) và cũng không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nội dung tin nhắn không chứng minh được việc bị đơn thừa nhận nợ nguyên đơn nên không cần thiết đưa vào tham gia tố tụng và theo biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 26/02/2024 có ghi nhận ý kiến của đại diện nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu Hội đồng xét xử đặt câu hỏi đối với đương sự khác. Do đó, nguyên đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng N về việc yêu cầu bị đơn ông A Do Ka Riêm, bà Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Tấn T2 cùng có trách nhiệm trả số tiền vốn vay 3.500.000.000 đồng và tiền lãi 595.000.000 đồng (từ ngày 08/9/2022 đến ngày 26/02/2024) và yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 27/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 112.095.000 đồng (một trăm mười hai triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 54.850.000 đồng (năm mươi bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai số 0003643 ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng N còn phải nộp thêm số tiền 57.245.000 đồng (năm mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Bị đơn ông A Do Ka Riêm, bà Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Tấn T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003384 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 211/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản, chưa giao tiền
