Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-6-2024

Về tranh chấp: Ly hôn

giữa chị Lê Thị Kim Ngân và anh

Nguyễn Văn Giang

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Anh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Ngày 11 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1980; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1980; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa chị N, anh G có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Kim N trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào đầu năm 2001 tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nhưng sau này do đăng ký kết hôn anh G bị sai tên đệm nên ngày 20 tháng 8 năm 2008, hai bên đã đi đăng ký kết hôn lại tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm không tự bảo ban được nhau trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra va chạm, thời điểm đó vợ chồng cũng có trục trặc trong vấn đề tình cảm. Hai bên đã nói chuyện với nhau cùng thống nhất khắc phục. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn mâu thuẫn vợ chồng lại tiếp tục xảy ra căng thẳng. Anh G hay uống rượu về chửi bới, lăng mạ, hành hùng đánh đập chị. Sự việc đã diễn ra nhiều lần và gần đây chị đã phải báo công an xã L giải quyết để bảo đảm tính mạng cho chị. Quá trình chung sống vợ chồng cũng đã cố gắng hòa giải nhiều lần, bản thân chị cũng cố gắng nhẫn nhịn để cho cuộc sống vợ chồng được cải thiện nhưng anh G không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh G.

    Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngân H, sinh ngày 14-11-2001 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Huy H1, sinh ngày 22-5-2005 (giới tính: Nam). Do hai con đã trưởng thành, tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung.

    Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim N xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về vay nợ chung: Chị Lê Thị Kim N xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

  2. Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn là anh Nguyễn Văn G trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị N trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hòa hợp, bất đồng trong cuộc sống, hay xảy ra va chạm đánh cãi chửi nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm. Mặc dù, hai bên đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung. Bản thân anh cũng có uống rượu và đánh vợ nên mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, trầm trọng. Nay chị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, bản thân anh mong muốn chị N suy nghĩ lại bỏ qua những bất đồng, sai phạm của anh để vợ chồng về đoàn tụ, chung sống vì các con, anh không đồng ý ly hôn chị N.

    Về con chung: Anh G nhất trí với quan điểm của chị N là vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngân H, sinh ngày 14-11-2001 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Huy H1, sinh ngày 22-5-2005 (giới tính: Nam). Do hai con đã trưởng thành, tự lập nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung.

    Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn G xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về vay nợ chung: Anh Nguyễn Văn G xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

  3. Tại phiên tòa:

    - Về quan hệ hôn nhân:

    Quan điểm của chị Lê Thị Kim N xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa vì chị đã cho anh G thời gian để vợ chồng có cơ hội khắc phục mâu thuẫn nhưng hai bên vẫn không giải quyết được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

    Quan điểm của anh Nguyễn Văn G vẫn mong muốn chị N suy nghĩ lại để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn về chung sống đoàn tụ vì các con nhưng tại phiên tòa hôm nay, chị N cương quyết xin ly hôn thì anh cũng phải chấp nhận.

    - Về con chung: Các con đã trưởng thành, tự lập nên chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung

    - Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về vay nợ chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Kim N có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn G. Xét thấy, tranh chấp giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G đều có nơi cư trú: thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn ngày 20-8-2008 tại UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp.

    Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm, không hòa hợp. Bên cạnh đó, để dẫn đến việc quan hệ vợ chồng căng thẳng là do anh G hay uống rượu về chửi bới, lăng mạ, hành hùng đánh đập chị N. Vợ chồng đã có thời gian giải quyết, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng chị N vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Tại phiên tòa, quan điểm của anh G không muốn ly hôn nhưng chị N cương quyết xin ly hôn thì anh cũng phải chấp nhận. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G.

  3. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngân H, sinh ngày 14-11-2001 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Huy H1, sinh ngày 22-5-2005 (giới tính: Nam). Do hai con đã trưởng thành, tự lập nên hai bên cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc giao nuôi con chung vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim N phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị Kim N nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Lê Thị Kim N đã nộp tại biên lai số 0002117 ngày 15-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định
  3. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Kim N và anh Nguyễn Văn G có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Nam Định;

- VKSND thành phố Nam Định;

- Chi cục THADS TP. Nam Định;

- UBND xã Yên Thọ, huyện Ý Yên, tỉnh

Nam Định (11.2008);

- Các đương sự;

- Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger