Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07 – 8 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị S, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: ấp 6, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Tạ Hoàng D, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Thạch Thị S trình bày:

  • - Về hôn nhân: Chị S và anh D chung sống năm 2020, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau ngày 02/12/2022, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nay cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên chị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
  • - Về con chung: Có một con chung tên Tạ Tố C, sinh ngày 08/11/2021. Sau khi ly hôn chị S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu C và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với anh Tạ Hoàng D:

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh D hợp lệ nhưng anh D chưa có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Thạch Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Tạ Hoàng D đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị S và anh D kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị S xác định vợ chồng mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu ly hôn. Anh D cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu của chị S, điều này cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị có xảy ra đến mức trầm trọng không thể kéo dài tình trạng hôn nhân, không ai mong muốn hàn gắn tình cảm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị S được ly hôn với anh D là phù hợp.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị S thấy rằng, khi ly hôn cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, cháu C hiện do chị S nuôi dưỡng, chị vẫn đảm bảo cho con chung phát triển tốt. Mặt khác, cháu C chưa đủ 36 tháng tuổi lại là nữ giới nên cần có sự chăm sóc của mẹ là phù hợp hơn. Ngoài ra, anh D cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu của chị S nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị S, giao con chung Tạ Tố C cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng để nhằm đảm bảo các điều kiện cho con phát triển tốt nhất.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị S: Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Do đó, việc chị S yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở được chấp nhận. Chị S yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng phù hợp các quy định pháp luật. Do đó, cần buộc anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C 1.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 07/8/2024 đến khi cháu C đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị S xác định không có, không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5] Về án phí: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; Anh D phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị S.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị S được ly hôn anh Tạ Hoàng D.
  2. Về con chung: Giao Tạ Tố C, sinh ngày 08/11/2021 cho chị Thạch Thị S tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Buộc anh Tạ Hoàng D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 07 tháng 8 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Tạ Hoàng D không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí:
    1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thạch Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001510 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
    2. Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Tạ Hoàng D phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); (chưa nộp).
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger