Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 211/2024/DS-PT

Ngày: 05 - 8-2024

V/v Tranh chấp di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nhu;

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu.

Bà Thái Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLPT-DS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 185/2024/QĐ-PT, ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1962; Nơi đăng ký HKTT: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976; Địa chỉ: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 14/02/2022 – Có mặt).

- Bị đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1954; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

  1. Anh Lê Trung T, sinh năm 1983; Địa chỉ: D đường A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 05/01/2024 - Có mặt)
  2. Ông Phan Thanh H1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ A, khu phố M, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Địa chỉ liên lạc: 16, N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 18/5/2024 - Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phùng Thị L, sinh năm 1946;
  2. Anh Lê Thành T1, sinh năm 1988;
  3. Anh Lê Thành S, sinh năm 1988.

Cùng địa chỉ: tổ C, ấp G, xã T, H. V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

  1. Chị Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  2. Chị Lê Thị Hồng M, sinh năm 1962; Địa chỉ: tổ B ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
  3. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1965; Địa chỉ: số D B, Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
  4. Anh Lê Hoàng P, sinh năm 1977; Địa chỉ: D, tổ C, ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  5. Anh Lê Ngọc C, sinh năm 1979; Địa chỉ: A, khu C, ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  6. Chị Lê Hồng Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  7. Chị Lê Ngọc H3, sinh năm 1968;
  8. Chị Lê Thị B, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

  1. Anh Lê Minh Q, sinh năm 1973;
  2. Anh Lê Minh H4, sinh năm 1975;
  3. Anh Lê Quảng H5, sinh năm 1978;
  4. Chị Lê Thị Hồng H6, sinh năm 1980;
  5. Anh Lê Trung T, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

  1. Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1981;
  2. Chị Lê Nguyễn Thúy N, sinh năm 2001;
  3. Chị Lê Nguyễn Trúc L2, sinh năm 2004.

Cùng địa chỉ: số A, khu B, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

  1. Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1978;
  2. Cháu Lê Minh T3, sinh năm 2002;
  3. Cháu Lê Anh P1, sinh năm 2008;
  4. Cháu Lê Minh H8, sinh năm 2013.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

· Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị V do ông Nguyễn Văn H đại diện trình bày:

Sinh thời cha mẹ bà Lê Thị V là ông Lê Văn D, (Sinh năm 1910, chết năm 1998) và bà Đoàn Thị T4 (Sinh năm 1913, chết năm 1994), HKTT: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai có sinh được 06 người con như sau: Lê Văn T5 (Sinh năm 1935, chết năm 2013), Lê Thị K1 (Sinh năm 1949, chết năm 1960) Không có chồng và không có con, Lê Văn S1 (Liệt sĩ năm 1969) vợ bà Nguyễn Thị T6 (Liệt sĩ), Lê Văn S2 (Liệt sĩ năm 1969), không có vợ và không có con, Lê Minh T7 (Sinh năm 1954, chết năm 2012) và Lê Thị V - Sinh năm 1962.

Khi chết, cụ D, cụ T4 có để lại di sản là quyền sử dụng đất tổng diện tích là 13.172m², thuộc các thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, diện tích là 3801m²; Thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4, diện tích là 1.394m²; Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích là 633m²; Thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, diện tích là 6.931m² và Thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), diện tích là 413m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/08/1995 cho ông Lê Văn D.

Năm 1994, bà Đoàn Thị T4 chết đến năm 1998 ông Lê Văn D chết. Khi chết ông D, bà T4 không để lại di chúc.

Trong quá trình sử dụng đất trước khi chết, vào năm 1996 ông Lê Văn D có lập giấy ủy quyền và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/08/1995 cho ông Lê Minh T7 để thế chấp vay vốn ngân hàng.

Đến năm 2004, cá nhân anh trai là ông Lê Văn T5 tự lập văn bản gọi là Biên bản họp mặt gia đình rồi tự quyết giao toàn bộ các thửa đất nêu trên cho ông Lê Minh T7 thừa hưởng mà bà V cũng như những người thừa kế khác không được tham gia và đồng ý.

Sau khi được ông T5 đồng ý giao tài sản thừa kế là các thửa đất nêu trên, đến năm 2005 ông Lê Minh Trung 1 thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, nên vào ngày 17/05/2005 UBND huyện Thống Nhất ban hành quyết định số 1014/QĐ-CT-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Văn D ngày 29/08/1995, đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng từng thửa để đứng tên ông Lê Minh T7 cùng vợ bà Trần Thị Kim g các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673520 ngày 17/05/2005, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, diện tích là 3801m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673521 ngày 17/05/2005, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4, diện tích là 1.394m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673522 ngày 17/05/2005, thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích là 633m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673523 ngày 17/05/2005, thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, diện tích là 6931m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673524 ngày 17/05/2005, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), diện tích là 413m².

Do việc thỏa thuận chia thừa kế giữa ông T5 với ông T7 bà V không được biết, không có sự đồng ý của bà V, nên việc ông T7 đăng ký quyền sử dụng đất là trái pháp luật. Vì vậy, vào ngày 06/11/2014 bà V có làm đơn khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Minh T7, bà Trần Thị K đối với tài sản thừa kế là trái pháp luật đến UBND huyện T. Sau khi giải quyết khiếu nại, UBND huyện T đã ban hành quyết định số 388/QĐ0UBND ngày 04/02/2015 thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đứng tên ông Lê Minh T7, bà Trần Thị K để các bên thỏa thuận chia tài sản thừa kế theo quy định.

Các di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 chết để lại nay có sự thay đổi và phát sinh như sau:

  • Đối với tài sản thừa kế là thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, có diện tích là 3.801m², khi còn sống ông Lê Văn D đã chuyển nhượng cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
  • Trong các thửa đất số 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4 lúc sinh thời ông Lê Văn D đã cho tặng miệng phần diện tích là 789,1m² cho vợ chồng Lê Ngọc H3, Dương Văn Đ1 (Cháu nội, là con ông Lê Văn S1). Nay diện tích chỉ còn lại 7495,9m² và các thửa đất số 65, 64 và 61 nêu trên đổi thành thửa đất mới số 30, tờ bản đồ số 12, xã H.
  • Thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), nay được tách thành các Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m²; Thửa đất số 122, diện tích là 68,1m² và Thửa đất số 123, diện tích là 70,9m², thuộc tờ bản đồ số 29. Lúc sinh thời ông Lê Văn D đã cho tặng miệng một phần cho chị Lê Thu B1, Lê Ngọc H3 (Cháu nội, là con ông Lê Văn S1). Nay phần diện tích cho Lê Thu B1 là Thửa đất số 122, diện tích là 68,1m² và Thửa đất số 123, diện tích là 70,9m²).

Đối với di sản thừa kế thuộc các thửa đất do sinh thời ông Lê Văn D đã đồng ý cho bằng miệng các cháu Lê Ngọc H3, Lê Thu B1 nay bà V không yêu cầu chia đối với tài sản thừa kế này.

Như vậy nay di sản thừa kế còn lại là (Theo thửa mới) Thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m²; Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m².

Cháu Lê Ngọc H3, Lê Thu B1 là con của ông Lê Văn S1 đã được ông nội cho tài sản trước đây nên hiện nay đã từ chối nhận phần di sản thừa kế thế vị mà ông Lê Văn S1 được nhận từ ông D, bà T4. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T5 cũng từ chối nhận phần tài sản thừa kế của ông D, bà T4 để lại. Bà Lê Thị K1 và ông Lê Văn S2 là liệt sỹ, chết trước ông D, bà T4 nhưng không có vợ, con.

Vì vậy, hàng thừa kế thứ nhất của ông D, bà T4 đến thời điểm ông Lê Văn D chết năm 1998 chỉ còn lại 02 người là bà Lê Thị V và ông Lê Minh T7. Năm 2012, ông T7 chết nhưng di sản thừa kế của ông D, bà T4 vẫn chưa được chia theo quy định của pháp luật nên bà V yêu cầu chia đôi di sản của ông D, bà T4 thành 02 phần cho bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7.

Bà V nhiều lần yêu cầu bà Trần Thị K và các con ông Lê Minh T7 tiến hành chia di sản do ông D, bà T4 để lại nhưng bà K và các người con ông T7 không đồng ý vì cho rằng các diện tích đất trên ông Lê Minh T7, bà Trần Thị K đã được ông Lê Văn D lập văn bản ủy quyền ngày 24/4/1996 và năm 2004 ông Lê Văn T5 lập biên bản họp gia đình ủy quyền cho ông Lê Minh T7 đăng ký quyền sử dụng đất.

Nay bà V yêu cầu tòa án giải quyết những yêu cầu như sau:

Yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại gồm các diện tích đất (Theo thửa mới) gồm Thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m²; Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm 02 phần cho bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 (bà Trần Thị K và các con của ông Lê Minh T7).

Cụ thể, bà Lê Thị V yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật gồm: diện tích đất là 3.273m² thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) và tài sản gắn liên với đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 và Thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29, diện tích là 116,4m² (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) và căn nhà trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

Bà V đồng ý giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 nhận diện tích 4.222.9m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai và tài sản gắn liên trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 và diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

Bà Lê Thị V không yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T8 phải hoàn trả số tiền chênh lệch khi chia di sản thừa kế.

Đối với các di sản là QSD đất ông Lê Văn D đã tặng cho và chuyển nhượng cho người khác bà Lê Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Nguyên đơn thống nhất và đề nghị Hội đồng xét xử sử dụng kết quả thẩm định giá đất tranh chấp và tài sản gắn liền trên đất mà Công ty cổ phần T10 và kết quả đo đạc diện tích đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T9 cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về chi phí tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

2. Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị K do anh Lê Trung T đại diện trình bày:

Bà Trần Thị K là vợ của ông Lê Minh T7 là con dâu của ông Lê Văn D và bà Đoàn Thị T4. Bà K và ông T7 chung sống có 05 người con gồm: Lê Minh Q, Lê Minh H4, Lê Quan H9, Lê Thị Hồng H6, Lê Trung T, ông T7 đã chết năm 2012.

Đối với những người con của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị Thôi t bà Trần Thị K thừa nhận ông D, bà T4 sinh thời có 06 người con gồm: Lê Văn T5 (Sinh năm 1935, chết năm 2013), Lê Thị K1 (Sinh năm 1949, chết năm 1960) Không có chồng và không có con, Lê Văn S1 (Liệt sĩ năm 1969) vợ bà Nguyễn Thị T6

(Liệt sĩ), Lê Văn S2 (Liệt sĩ năm 1969), không có vợ và không có con, Lê Minh T7 (Sinh năm 1954, chết năm 2012) và Lê Thị V - Sinh năm 1962.

Về phần tài sản tranh chấp trong vụ án, bà K thống nhất với trình bày của bà V về nguồn gốc là do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại cụ thể tổng diện tích là 13.172m², thuộc các thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, diện tích là 3801m²; Thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4, diện tích là 1.394m²; Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích là 633m²; Thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, diện tích là 6.931m² và Thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), diện tích là 413m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/08/1995 cho ông Lê Văn D.

Năm 1996, ông Lê Văn D đã lập Văn bản ủy quyền đề ngày 24/4/1996 về việc ủy quyền cho ông Lê Minh T7 (chồng bà K) được toàn quyền sử dụng, định đoạt và ngày 04/4/2004 ông Lê Văn T5 lập Biên bản họp gia đình ủy quyền cho ông Lê Minh T7 sử dụng toàn bộ diện tích đất ông D, bà T4 để lại.

Ngày 17/5/2005, vợ chồng Lê Minh T7, Trần Thị K được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673520 ngày 17/05/2005, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, diện tích là 3801m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673521 ngày 17/05/2005, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4, diện tích là 1.394m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673522 ngày 17/05/2005, thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích là 633m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673523 ngày 17/05/2005, thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, diện tích là 6.931m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673524 ngày 17/05/2005, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), diện tích là 413m².

Trên giấy chứng nhận QSDĐ vợ chồng bà K được cấp diện tích như trên nhưng thực tế ông Lê Văn D đã tặng cho và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác như bà V trình bày là đúng nên di sản của ông D, bà T4 để lại chỉ còn thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m² (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4); Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519).

Nay bà Lê Thị V yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 gồm các diện tích đất (Theo thửa mới) gồm Thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m²; Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm 02 phần cho bà Lê Thị V và

hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 (bà Trần Thị K và các con của ông Lê Minh T7) thì bà K không đồng ý.

Tuy nhiên nếu trường hợp phải chia thừa kế thì bà Trần Thị K yêu cầu chia đôi diện tích đất thuộc Thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m²; Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm 02 phần bằng nhau.

3. Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T và Lê Minh H4 trình bày:

Anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T và Lê Minh H4 là con của ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị K, ngoài ra ông T7, bà K còn có 01 người con tên Lê Quan H9, sinh năm 1978 (chết năm 2006).

Về các người con của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 và các di sản do ông D, bà T4 để lại thì anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T và Lê Minh H4 thống nhất với trình bày của bị đơn Trần Thị K.

Khi còn sống ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 có tạo dựng được tài sản như sau: Quyền sử dụng đất diện tích là 13.172m² gồm đất ở và đất sản xuất đã được UBND huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C667057 ngày 29/08/1995 cấp cho ông Lê Văn D.

Năm 1996, ông Lê Văn D đã lập Văn bản ủy quyền đề ngày 24/4/1996 về việc ủy quyền cho ông Lê Minh T7 là cha của anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T và Lê Minh H4 được toàn quyền sử dụng, định đoạt và ngày 04/4/2004 ông Lê Văn T5 lập Biên bản họp gia đình ủy quyền cho ông Lê Minh T7 sử dụng toàn bộ diện tích đất ông D, bà T4 để lại.

Đến ngày 17/5/2005, ông Lê Minh T7, Trần Thị K được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673520 ngày 17/05/2005, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4, diện tích là 3801m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673521 ngày 17/05/2005, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4, diện tích là 1394m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673522 ngày 17/05/2005, thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4, diện tích là 633m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673523 ngày 17/05/2005, thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4, diện tích là 6931m².
  • Giấy chứng nhận QSDĐ số 673524 ngày 17/05/2005, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519), diện tích là 413m².

Nay bà Lê Thị V yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 gồm các diện tích đất (Theo thửa mới) gồm Thửa đất số 30, tờ bản đồ 12, diện tích 7.495,9m²; Thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m²; Thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm 02 phần cho bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 (bà Trần Thị K và các con của ông Lê Minh T7) thì anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T và Lê Minh H4 không đồng ý vì các diện tích đất trên ông nội Lê Văn D đã cho cha của các anh chị và đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.

4. Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 trình bày:

Bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 là vợ và con của ông Lê Văn T5, sinh năm 1935 chết ngày 11/12/2013 và là con dâu và cháu nội của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4.

Bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 xác định các ông bà là hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T5.

Về các người con của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 và các di sản do ông D, bà T4 để lại thì bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 thống nhất với trình bày của nguyên đơn Lê Thị V, bị đơn Trần Thị K.

Khi còn sống ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 có tạo dựng được tài sản như sau: Quyền sử dụng đất diện tích là 13.172m² gồm đất ở và đất sản xuất đã được UBND huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C667057 ngày 29/08/1995 cấp cho ông Lê Văn D.

Khi ông D, bà T4 chết không để lại di chúc. Nên ông Lê Văn T5 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông D, bà T4 và được hưởng một phần di sản của ông D, bà T4 để lại. Do ông T5 đã chết nên bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 được hưởng phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn T5 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại.

Do không muốn nhận phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn T5 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại là diện tích là 13.172m² gồm đất ở và đất sản xuất đã được UBND huyện T (cũ) cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 ngày 29/08/1995 cấp cho ông Lê Văn D nên bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 đã làm đơn từ chối nhận phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn T5 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại và đề nghị Tòa án phân chia di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại cho các đồng thừa kế khác là hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4.

5. Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị B, Lê Ngọc H3 trình bày:

Chị Lê Thị B và chị Lê Ngọc H3 là con ruột của ông Lê Văn S1, (Liệt sĩ hy sinh vào năm 1969) và là cháu nội của cụ Lê Văn D, sinh năm 1910, đã chết vào năm 1997 theo Bản sao giấy chứng tử số 53/KT, quyển số 01/2014 do UBND xã H cấp ngày 07/11/2014 và bà Đoàn Thị T4, sinh năm 1913, đã chết vào năm 1994 theo giấy chứng tử bản sao số 16, quyển số 01/2005 do UBND xã H cấp ngày 15/04/2005.

Chị Lê Thị B, Lê Ngọc H3 xác định các ông bà là hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn S1.

Về các người con của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 và các di sản do ông D, bà T4 để lại thì Chị Lê Thị B và chị Lê Ngọc H3 thống nhất với trình bày của nguyên đơn Lê Thị V, bị đơn Trần Thị K.

Khi còn sống ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 có tạo dựng được tài sản như sau: Quyền sử dụng đất diện tích là 13.172m² gồm đất ở và đất sản xuất đã được UBND huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C667057 ngày 29/08/1995 cấp cho ông Lê Văn D.

Ông Lê Văn D chết năm 1998, bà T4 chết năm 1994 không để lại di chúc. Ông Lê Ngọc S3 chết năm 1969 nên chị B, chị H3 là người thừa kế kế vị của ông Lê Văn S1 và được hưởng một phần di sản di ông D, bà T4 để lại.

Do đã được ông Lê Văn D cho đất và không muốn nhận phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn S1 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại là diện tích là 13.172m² gồm đất ở và đất sản xuất đã được UBND huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 ngày 29/08/1995 cho ông Lê Văn D nên chị Lê Thị B, Lê Ngọc H3 đã làm đơn từ chối nhận phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn S1 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại và đề nghị Tòa án phân chia di sản do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại cho các đồng thừa kế khác là hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4.

6. Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H7, cháu Lê Nguyễn Thúy N; Lê Nguyễn Trúc L2 trình bày:

Chị Nguyễn Thị H7, cháu N, cháu L2 là vợ và con của anh Lê Quan H9 (chết năm 2006), anh Lê Quan H9 là con ruột của ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị K.

Năm 2007, ông Lê Minh T7 có cho bằng miệng chị H7 và các con diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29. Quá trình sử dụng, chị H7 có xây dựng căn nhà cấp 4 trên diện tích đất trên và hiện đang sinh sống trên căn nhà và đất trên.

Nay bà Lê Thị V yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 trong đó có thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 diện tích 83m² thì chị Nguyễn Thị H7 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N; Lê Nguyễn Trúc L2 không đồng ý. Vì diện tích đất trên vợ chồng chị H7 đã được ông Lê Minh T7 cho đất từ năm 2007, đã xây nhà sinh sống ổn định cho đến nay. Trường hợp nhà đất trên bà V yêu cầu chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 thì chị H7 không có ý kiến gì, trường hợp chia cho bà V thì chị H7 yêu cầu bà V có nghĩa vụ thanh toán cho chị H7 giá trị căn nhà theo giá đã được công ty cổ phần T10 giá cung cấp cho Tòa án.

7. Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh H4, chị Nguyễn Thị Thanh T2 và cháu Lê Minh T3; Lê Anh P1, Lê Minh H8 trình bày:

Chị T2, cháu T3, P1, H8 là vợ và con của anh Lê Minh H4, anh Lê Minh H4 là con ruột của ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị K.

Năm 2000, ông Lê Minh T7 có cho bằng miệng vợ chồng chị diện tích đất 116,4m² thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ 29. Vợ chồng anh chị cùng các con chung sống ổn định từ đó đến nay.

Nay bà Lê Thị V yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 trong đó có diện tích đất 116,4m² thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 thì chị Nguyễn Thị Thanh T2 và cháu Lê Minh T3; Lê Anh P1, Lê Minh H8 không đồng ý. Vì diện tích đất trên vợ chồng chị H7 đã được ông Lê Minh T7 cho đất bằng lời nói từ năm 2000, đã sinh sống ổn định cho đến nay, chị T2 anh H4 chưa đầu từ gì trên diện tích đất này.

8. Bản án sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DS-ST, ngày 26 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147,157,165, 227, 228; 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V xác định diện tích 7.495,9m² đất thuộc thửa số 30 tờ bản đồ số 12; diện tích 83m² thuộc thửa 117 tờ bản đồ số 29, diện tích 116,4m² và căn nhà trên đất thuộc thửa 121 tờ bản đồ số 29, tất cả các thửa đất trên thuộc xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai là di sản thừa kế của cụ Lê Văn D, cụ Đoàn Thị T4.

- Chia di sản thừa kế như sau:

Bà Lê Thị V được chia quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất:

  • Diện tích đất là 3.273m² và tài sản gắn liên trên đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.(Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4).
  • Diện tích 116,4m² thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) và căn nhà trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

- Buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 chị Nguyễn Thị Thanh T2, Lê Minh T3 có nghĩa vụ giao các tài sản trên cho bà Lê Thị V.

- Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm (bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quảng H5 con ông T7).

  • Diện tích 4.222.9m² thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) và tài sản gắn liên trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.
  • Diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

Bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm (bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền thực hiện thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia theo quy định pháp luật.

- Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị V tự nguyện chịu 1/2 chi phí tố tụng là 27.844.936 đồng (hai mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm ba sáu đồng) bà V đã nộp đủ số tiền trên.

Buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho bà Lê Thị V số tiền 27.844936 đồng (hai mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm ba sáu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị V được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) có nghĩa vụ liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 112.037.432 đồng (một trăm mười hai triệu không trăm ba bảy ngàn bốn trăm ba hai đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

9. Kháng cáo:

Ngày 22/4/2024, bị đơn bà Trần Thị K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

10. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V; Chia cho bà Lê Thị V được quyền sử dụng diện tích đất là 3.273m² và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4), diện tích 116,4m² thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) và căn nhà trên đất; Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh

Lê Quảng H5 con ông T7) diện tích 4.222.9m² thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) và tài sản gắn liền trên đất, diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519); buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 chị Nguyễn Thị Thanh T2, Lê Minh T3 có nghĩa vụ giao các tài sản trên cho bà Lê Thị V là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí, bà Trần Thị K là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Trần Thị K liên đới cùng anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 112.037.432 đồng là đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Nguyên đơn bà Lê Thị V yêu cầu chia di sản thừa kế do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại gồm các diện tích đất (theo thửa mới) là thửa đất số 30 tờ bản đồ 12 diện tích 7.495,9m², thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 diện tích 83m² và thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm hai phần cho bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 (bà Trần Thị K và các con của ông Lê Minh T7).

Cụ thể, bà Lê Thị V yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật gồm: Diện tích đất là 3.273m² và tài sản gắn liền trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4), trị giá 2.618.400.000 đồng và yêu cầu được nhận thửa đất số 121 tờ bản đồ số 29 diện tích là 116,4m² (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) cùng căn nhà trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9, trị giá nhà đất 1.416.600.000 đồng.

Bà V đồng ý giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 nhận diện tích 4.222.9m² và tài sản gắn liên trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H (Thửa đất cũ

là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) trị giá 3.378.320.000 đồng và diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 trị giá 1.133.800.000 đồng.

[2.2] Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận các diện tích đất tranh chấp trên có nguồn gốc do ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 tạo lập, để lại trong tổng diện tích 13.172m², thuộc các thửa đất số 66, tờ bản đồ số 4 diện tích là 3801m², thửa đất số 65, tờ bản đồ số 4 diện tích là 1.394m², thửa đất số 64, tờ bản đồ số 4 diện tích là 633m², thửa đất số 61, tờ bản đồ số 4 diện tích là 6.931m² và thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) diện tích là 413m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 667057 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 29/08/1995 cho ông Lê Văn D.

[2.3] Bị đơn bà Trần Thị K và những người con của ông Lê Minh T7 cho rằng toàn bộ diện tích 13.172m² đất nói trên đã ủy quyền cho ông Lê Minh T7 vào ngày 24/4/1996, đến ngày 04/4/2004 ông Lê Văn T5 lập biên bản họp gia đình giao lại toàn bộ diện tích đất trên cho ông Lê Minh T7, ngày 17/5/2005 ông T7, bà K đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất số AB 673520 diện tích 3.801m² thuộc thửa số 66, Giấy CNQSD đất số AB 673521 diện tích 1.394m² thuộc thửa số 65, Giấy CNQSD đất số AB 673522 diện tích 633m² thuộc thửa số 64, Giấy CNQSD đất số AB 673523 diện tích 6.932m² thuộc thửa số 61 (cùng tờ BĐĐC số 04, xã H) và Giấy CNQSD đất số AB 673524 diện tích 413m² thuộc thửa số 57, tờ BĐĐC số 02, xã H. Vì vậy, họ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.4] Tại Quyết định về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị V số 388/QĐ-UBND ngày 04/02/2015 của UBND huyện T đã quyết định: “1. thu hồi các giấy CNQSD đất gồm số: AB 673520; АВ 673521; AB 673522; AB 673523 (tờ số 04, BĐĐC xã H); AB 673524 (tờ số 02, BĐĐC xã H), cấp ngày 17/5/2005 cho ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị K, địa chỉ ấp H, xã H, huyện T với các lý do: Giấy ủy quyền của ông Lê Văn D cho ông Lê Minh T7 được UBND xã H xác nhận năm 1996 là để lập thủ tục thế chấp vay vốn ngân hàng. Năm 1998 ông Lê Văn D chết, căn cứ khoản 4 Điều 589 Bộ Luật dân sự 2005 quy định bên ủy quyền hoặc bên nhận ủy quyền chết thì việc ủy quyền hết hiệu lực và năm 2004 ông Lê Văn T5 lập biên bản họp gia đình để ủy quyền cho ông Lê Minh T7 đăng ký quyền sử dụng đất không đúng theo quy định, bởi lẽ việc họp gia đình để xử lý tài sản thừa kế phải có đủ mặt hoặc ý kiến thống nhất của những người được thừa kế di sản, nhưng biên bản họp gia đình lập 04/4/2004 vắng mặt và chưa thể hiện có sự đồng ý của bà Lê Thị V là người đồng thừa kế theo pháp luật”; “2. Để các bên đương sự (người khiếu nại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan) tự thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về thừa kế và quyền đối với tài sản chung”.

Ngày 27/02/2015, bà Trần Thị K có đơn khiếu nại đối với quyết định số 388/QĐ-UBND ngày 04/02/2015 của UBND huyện T. Ngày 22/7/2015, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định số 2358/QĐ-UBH “về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị K” nội dung quyết định “bác nội dung khiếu nại của bà Trần Thị K vì không có cơ sở để UBND huyện xem xét. Giữ nguyên quyết định số: 388/QĐ-UBND ngày 04/02/2015 của UBND huyện đề nghị bà Trần Thị K nghiêm túc thực hiện. tiếp tục thực hiện việc thu hồi các giấy CNQSD đất gồm số: AB 673520; AB 673521; АВ 673522; AB 673523 (tờ số 04, BĐĐC xã H); AB 673524 (tờ số 02, BĐĐC xã H), cấp ngày 17/5/2005 cho ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị K, địa chỉ ấp H, xã H, huyện T”.

Như vậy, có cở sở xác định đây là di sản thừa kế mà ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 để lại. Ông Lê Văn D chết năm 1998, bà Đoàn Thị T4 chết năm 1994 không để lại di chúc nên di sản của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 được chia theo quy định của pháp luật.

Bà V yêu cầu chia di sản của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 theo quy định của pháp luật đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ 12 diện tích 7.495,9m², thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m², và thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² là có cơ sở chấp nhận.

[2.5] Ông Lê Văn D và bà Đoàn Thị T4 có 06 người con gồm: Lê Văn T5 (sinh năm 1935, chết năm 2013), Lê Thị K1 (sinh năm 1949, chết năm 1960) không có chồng và không có con, Lê Văn S1 (Liệt sĩ năm 1969) vợ bà Nguyễn Thị T6 (Liệt sĩ), Lê Văn S2 (Liệt sĩ năm 1969) không có vợ và không có con, Lê Minh T7 (sinh năm 1954, chết năm 2012) và Lê Thị V (sinh năm 19620; ngoài các người con trên, ông D và bà T4 không có con nuôi; cha mẹ của ông D, bà T4 đã chết.

Bà Lê Thị K1 và ông Lê Văn S2 chết trước ông Lê Văn D và bà Đoàn Thị T4, ông S2, bà K1 không có vợ, chồng và con. Các người con của ông Lê Văn S1 là chị Lê Thị B, chị Lê Ngọc H3 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T5 là bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê Hồng Đ, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 có đơn từ chối nhận phần di sản thừa kế mà ông Lê Văn T5, ông Lê Văn S1 được hưởng trong khối di sản do ông Lê Văn D và bà Đoàn Thị T4 để lại. Việc từ chối nhận di sản của chị Lê Thị B, chị Lê Ngọc H3 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn T5 là bà Phùng Thị L, anh Lê Hoàng P, chị Lê Ngọc C, chị Lê hồng Đ2, anh Lê Thành T1, anh Lê Thành S, chị Lê Thị Hồng L1, chị Lê Thị Hồng M, anh Lê Văn H2 là hoàn toàn tự nguyện.

Vì vậy, hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị T4 chỉ còn 02 người gồm: Bà Lê Thị V và ông Lê Minh T7 nhưng do ông T7 chết năm 2012 nên hàng thừa kế thứ nhất của ông T7 gồm (bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) được hưởng phần di sản ông T7 được hưởng trong khối di sản do ông D, bà T4 để lại.

[2.6] Theo chứng thư thẩm định giá số 320/TĐG-CT ngày 17/10/2023 của Công ty Cổ phần T10, diện tích 7.495,9m² thuộc thửa 30 giá trị là 5.996.720.000 đồng, diện tích 83m² thuộc thửa 117 có giá trị là 996.000.000 đồng, diện tích 116,4m² thuộc thửa 121 có giá trị là 1.396.800.000 đồng, căn nhà trên thửa đất 121 có trị giá là 19.800.000 đồng. Như vậy, giá trị di sản của cụ D, cụ T4 để lại giải quyết trong vụ án này là 9.206.720.000 đồng. Do đó, bà V và hàng thừa kế thứ nhất của ông T7 mỗi kỷ phần được nhận di sản thừa kế giá trị là 4.603.360.000 đồng (9.206.720.000 đồng : 2).

[2.7] Bà Lê Thị V yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật gồm diện tích đất là 3.273m² và tài sản gắn liền trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12, xã H (thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) trị giá 2.618.400.000 đồng và thửa đất số 121 tờ bản đồ số 29 diện tích là 116,4m² (thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) cùng căn nhà trên đất theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9 trị giá 1.416.600.000 đồng, tổng cộng giá trị 4.035.000.000 đồng là thấp hơn kỷ phần thừa kế mà bà V được hưởng theo quy định của pháp luật, thấp hơn kỷ phần hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 được nhận, không ảnh hưởng đến quyền lợi của hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 và phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, bà V cũng không yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 phải thanh toán giá trị phần chênh lệch.

Việc bà Trần Thị K yêu cầu chia đôi diện tích đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ 12 diện tích 7.495,9m², thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m², thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² làm 02 phần bằng nhau là không phù hợp với Quyết định 35/2022/QĐ-UB ngày 29/8/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ quy định tách thửa đất, hợp thửa đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai do các thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 với diện tích 83m² và thửa đất số 121, tờ bản đồ 29 với diện tích là 116,4m² về diện tích không đảm bảo.

Hiện nay hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 là bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 chị Nguyễn

Thị Thanh T2, Lê Minh T3 đang quản lý, sử dụng các diện tích đất đang tranh chấp.

[2.8] Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V: Chia cho bà Lê Thị V được quyền sử dụng diện tích đất là 3.273m² và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4), diện tích 116,4m² thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) và căn nhà trên đất; Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quảng H5 con ông T7) diện tích 4.222.9m² thửa đất số 30 tờ bản đồ số 12 xã H (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65, tờ bản đồ số 4) và tài sản gắn liền trên đất, diện tích đất 83m² thửa đất 117 tờ bản đồ số 29 (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519); buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 chị Nguyễn Thị Thanh T2, Lê Minh T3 có nghĩa vụ giao các tài sản trên cho bà Lê Thị V là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng: Toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và chi phí thẩm định giá tổng cộng 55.689.827 đồng bà Lê Thị V đã nộp tạm ứng. Bà Lê Thị V tự nguyện chịu 1/2 chi phí tố tụng là 27.844.936 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9) có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho bà Lê Thị V số tiền 27.844.936 đồng là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị V là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, bà Trần Thị K cũng là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị V và buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) có nghĩa vụ liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 112.037.432 đồng là đúng quy định của pháp luật.

[5] Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị K là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 288, 609, 611, 612, 613, 614, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V về việc tranh chấp di sản thừa kế của cụ Lê Văn D và cụ Đoàn Thị T4 đối với diện tích 7.495,9m² đất thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 12, diện tích 83m² thuộc thửa 117 tờ bản đồ số 29, diện tích 116,4m² và căn nhà trên đất thuộc thửa 121, tờ bản đồ số 29 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Chia cho bà Lê Thị V:

  • Diện tích đất 3.273m² và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65 tờ bản đồ số 4) được giới hạn bởi các điểm mốc (10, 11, 12, 13, 14, B, A, 15, 16, 10) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.
  • Diện tích đất 116,4m² và căn nhà trên đất thuộc thửa đất số 121, tờ bản đồ số 29 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) được giới hạn bởi các điểm mốc (3, 4, 5, 8, 9, 10, 3) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

Buộc bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 chị Nguyễn Thị Thanh T2, Lê Minh T3 có nghĩa vụ giao các tài sản trên cho bà Lê Thị V.

- Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, anh Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quảng H5 con ông T7):

  • Diện tích 4.222.9m² thửa đất số 30, tờ bản đồ số 12 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ là 61, 64 và 65 tờ bản đồ số 4) và tài sản gắn liên trên đất được giới hạn bởi các điểm mốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 1) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2579 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.
  • Diện tích đất 83m² thửa đất 117, tờ bản đồ số 29 xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Thửa đất cũ số 57, tờ bản đồ số 2(3-519) được giới hạn bởi các điểm mốc (5, 6, 7, 8, 5) theo Trích lục đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2578 ngày 26/08/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T9.

[2] Bà Lê Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Minh T7 gồm bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia theo quy định pháp luật.

[3] Về chi phí tố tụng:

Bà Lê Thị V tự nguyện chịu 1/2 chi phí tố tụng là 27.844.936 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng - đã nộp xong).

Bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9) có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Lê Thị V số tiền 27.844.936 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng).

[5] Về án phí:

Bà Lê Thị V được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị K, anh Lê Minh Q, chị Lê Thị Hồng H6, anh Lê Trung T, Lê Minh H4 và các cháu Lê Nguyễn Thúy N, Lê Nguyễn Trúc L2 (thừa kế thế vị của anh Lê Quan H9 con ông T7) có nghĩa vụ liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 112.037.432 đồng (Một trăm mười hai triệu không trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi hai đồng).

Bà Trần Thị K được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi

hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất;
  • - Chi cục THADS huyện Thống Nhất;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Nhu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 211/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger