|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 211/2024/HSST
Ngày 02/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hồ Sĩ Tiến
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 177/2024/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXX-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Thành P, sinh năm 1981 tại TP Hồ Chí Minh; Nơi thường trú và chỗ ở:
629/16 đường T, Phường A, Quận H, TP Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Cao Thành T, sinh năm 1949; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; Bị cáo có một người con, sinh năm 2014.
Tiền án:
- - Ngày 17/07/2020, Tòa án nhân dân Quận 10, TP - xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 62/2020/HSST ngày 17/7/2020). Ngày 09/09/2021, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam P1. Tại công văn số 1368/CCTHADS ngày 09/05/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 8, TP - xác nhận Cao Thành P chưa thi hành xong án phí HSST (200.000 đồng), nộp phạt bổ sung (5.000.000 đồng) đối với Bản án trên nên chưa xóa án tích theo quy định của pháp luật.
- - Ngày 04/01/2000, Tòa án nhân dân Quận 8, TP - xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (theo bản án số 03/HSST ngày 04/01/2000). Ngày 19/10/2002, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam P1. Tại công văn số 1360/CCTHADS ngày 08/05/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 8, TP - xác nhận Cao Thành P đã thi hành xong án phí HSST, nộp tiền thu nhập bất chính đối với bản án trên.
- - Ngày 04/03/2003, Tòa án nhân dân Quận 7, TP - xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (theo bản án số 17/HSST ngày 04/3/2003). Ngày 26/10/2009, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam P1. Tại công văn số 1362/CCTHADS ngày 08/05/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 8, TP - xác nhận Cao Thành P đã thi hành xong án phí HSST và DSST đối với bản án trên.
- - Ngày 13/6/2003, Tòa án nhân dân Quận 8, TP - xử phạt 08 năm 09 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo bản án số 122/HSST ngày 13/6/2003 và Tổng hợp hình phạt bản án số số 17/HSST ngày 04/3/2003 của Tòa án nhân dân Quận 7, TP -). Ngày 26/10/2009, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam P1. Tại công văn số 1361/CCTHADS ngày 08/05/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 8, TP Hồ Chí Minh xác nhận Cao Thành P đã thi hành xong án phí HSST đối với bản án trên.
- - Ngày 10/03/2011, Tòa án nhân dân Quận 5, TP - xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (theo Bản án số 27/2011/HSST. Ngày 09/04/2012, chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam T2. Tại công văn số 1363/CCTHADS ngày 08/05/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 8, TP - xác nhận Cao Thành P đã thi hành xong án phí HSST và DSST đối với bản án trên.
Bị bắt ngày 23 tháng 3 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3 (Có mặt).
Bị hại.
- Lê La L, sinh năm 1998; Địa chỉ: A N, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị Diệu X, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Thành P, sinh năm 1981, bản thân đã không có nghề nghiệp, nơi ở nhất định. Trong ngày 21/3/2024, lợi dụng sự mất cảnh giác của người dân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã điều tra làm rõ 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể, như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 21/03/2024, Cao Thành P dẫn theo con trai của mình là Lê Thanh V, sinh ngày 20/07/2014 (09 tuổi 8 tháng 01 ngày) đi mua bánh mì ở khu vực đường N thuộc phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đến khu vực trước nhà số A đường N, phường C, thành phố V, P thấy chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Raider, màu trắng đen, biển số 69L1-129.28 (số máy 1508308, số khung 108297) của anh Lê La L (sinh năm 1998) để bên hông nhà số A đường N, trên ổ khóa xe vẫn còn cắm chìa khoá nên P đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Lúc này, P nói với cháu Lê Thanh V (sinh năm 2014, là con trai của P) vào xem có đúng chìa khoá cắm trên xe hay không nên cháu V đến xem và dùng tay rút chìa khoá xe mang ra đưa cho P. Sau khi có được chìa khóa xe biển số 69L1-129.28, P quan sát thấy khu vực này không có người qua lại nên đến cắm chìa khoá xe rồi lấy dắt xe mô tô biển số 69L1-129.28 một đoạn đường rồi khởi động máy chạy về cất giấu tại nhà của mình ở số A đường T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo anh Lê La L tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Suzuki Raider, màu trắng đen, biển số 69L1-129.28 (số máy 1508308, số khung 108297) mua tháng 06/2018 với giá 60.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG-TTHS ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: Xe mô tô hiệu Suzuki Raider, màu trắng đen, biển số 69L1-129.28 có giá trị: 20.500.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Tiếp đến, khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày 21/3/2024, Cao Thành P trên đường đi mua đồ ăn, khi đi ngang qua khu vực hẻm A đường T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì thấy chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 63T1-8815 (số máy: 381214, số khung: 384209) của chị Đỗ Thị Diệu X (sinh năm 1999) để xe ở đầu hẻm không khóa cổ xe, không có người trông coi nên P đến lấy dắt chiếc xe mô tô biển số 63T1-8815 mang về cất giấu tại nhà mình ở số A đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo chi Đỗ Thị Diệu X tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 63T1-8815 (số máy: 381214, số khung: 384209) mua tháng 10/01/2011 với giá 20.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số (39/KL-HĐĐG-TTHS ngày 29 tháng 3 năm 2024), kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 63T1-8815 có giá trị: 2.500.000 đồng.
Sau khi nhận được trình báo của anh Lê La L và chị Đỗ Thị Diệu X. Cơ quan Công an xác minh truy xét bắt giữ Cao Thành P thu hồi vật chứng xe mô tô biển số 69L1-129.28 và xe mô tô biển số: 63T1-8815 tại nơi ở của P ở số A đường T, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3, Cao Thành P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (các bút lục điều tra từ số 97 đến số A).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:
* Về thu giữ vật chứng:
- - Xe mô tô hiệu Suzuki Raider, màu trắng đen, biển số 69L1-129.28 (số máy 1508308, số khung 108297); xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 63T1-8815 (số máy: 381214, số khung: 384209).
* Xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 69L1-129.28 cho anh Lê La L và xe mô tô biển số 63T1-8815 cho chị Đỗ Thị Diệu X (mẹ Phạm Thị Kim L1 ủy thác).
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê La L và chị Đỗ Thị Diệu X đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Bản cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Cao Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h, o Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh;bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Trong ngày 21/3/2024, trên địa bàn phường C, thành phố V, Cao Thành P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể, như sau:
- - Vào khoảng 16 giờ 25 phút ngày 21/03/2024, tại bên hông nhà số A đường N, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cao Thành P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô hiệu Suzuki Raider, màu trắng đen, biển số 69L1-129.28, có giá trị 20.500.000 đồng của anh Lê La L.
- - Vào khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày 21/3/2024, tại khu vực hẻm A đường T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng, Cao Thành P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô hiệu hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 63T1-8815, có giá trị: 2.500.000 đồng, của chị Đỗ Thị Diệu X.
Tổng tài sản mà Cao Thành P chiếm đoạt của các bị hại là 23.000.000 đồng.
Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”; bị cáo có 01 tiền án nên thuộc trường hợp “Tái phạm”; Bị cáo “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” nên thuộc các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản đã mất và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về xử lý vật chứng: Đã thực hiện xong.
- [8] Đối với hành vi của ông Trần Văn C, Hoàng Văn D và bà Phạm Thị U cầm, mua tài sản của T1, do không biết tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý ông C, ông D và bà U về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Cao Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h, o Khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt Cao Thành P: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.
- Trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
- Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 211/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 211/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thành Phương
