|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2025/KDTM-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phúc Duy Khang
- Ông Nguyễn Thanh Bình
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ – Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 148/2025/TLST-DS ngày 14/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4088/2025/QĐXXST-KDTM ngày 07/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 5065/2025/QĐST-KDTM ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty TNHH D
Địa chỉ: G N, phường L, thành phố T, TP .
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Trần Thanh H, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ông Hà Mạnh H1, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Lầu D, số B đường Đ, phường V, Quận C, TP .
-
Bị đơn: Công ty TNHH Đ1
Địa chỉ: Số D đường số E, khu phố C, phường B, TP ., TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D đường số E, khu phố C, phường B, TP ., TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và nguyên đơn Công ty TNHH D có người đại diện theo ủy quyền ông Trần Thanh H trình bày:
Ngày 01/12/2024, Công ty TNHH D (sau đây gọi tắt là Công tyDeerlet) và Công ty TNHH Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1), ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá số 112A/HĐMB/DL-SM/2024 ngày 01/12/2024 và Phụ lục số 01 cùng ngày 02/12/2024 với nội dung Công ty D bán cho Công ty Đ1 số lượng 431,164 sản phẩm; trong cửa hàng đồng giá, giá bán 8.000 đồng/sản phẩm. Tổng giá trị hàng hóa là: 3.449.312.000 đồng. Công ty D đã giao hàng cho Công ty Đ1 vào ngày 02/12/2024. Theo thỏa thuận thì Công ty Đ1 phải thanh toán cho Công ty D 100% tiền hàng sau 30 ngày kể từ ngày ký phụ lục hợp đồng. Tuy nhiên, đến nay Công ty Đ1 vẫn chưa thanh toán số tiền hàng 3.449.312.000 đồng cho Công ty D.
Đại diện Công ty D là bà Nguyễn Thị H2 đã gặp mặt thương lượng, gọi điện, nhắn tin cho ông Nguyễn Văn M là người đại diện của Công ty Đ1 để yêu cầu thanh toán công nợ nhưng rất nhiều lần tìm cách trì hoãn, trốn tránh và không đưa ra phương án giải quyết dứt điểm vụ việc. Việc không thanh toán tiền hàng đúng hạn của Công ty Đ1 làm cho Công ty D gặp rất nhiều khó khăn về tài chính cũng như khủng hoảng về tinh thần vì bị đòi nợ từ đối tác, người lao động; vì vậy, Công ty TNHH D khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
Buộc Công ty Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty D số tiền hàng chưa thanh toán là: 3.449.312.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 21/01/2025 đến ngày 21/6/2025 là 129.341.700 đồng, từ ngày 22/6/2025 đến ngày 26/6/2025 nguyên đơn tự nguyện không tính lãi; tổng cộng số tiền là 3.578.453.700 đồng.
Bị đơn Công ty TNHH Đ1 – người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M (vắng mặt không có lời khai).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Tp . tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân quận Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào tác tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa; bị đơn và nguyên đơn có biên bản đối chiếu công nợ, bị đơn xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 3.449.312.000 đồng, nhưng không thực hiện việc trả nợ; nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm trả là đúng luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Công ty TNHH Đ1 có địa chỉ tại số D đường số E, khu phố C, P. B, TP .; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về ‘Hợp đồng mua bán hàng hóa”; được pháp luật quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3]. Bị đơn Công ty TNHH Đ1 – người đại diện theo theo pháp luật ông Nguyễn Văn M. Đã được Tòa án đã thực hiện thông báo về việc bị khởi kiện, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa tại địa chỉ của bị đơn. Nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, xem như đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với người đại diện theo pháp luật của bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4]. Nguyên đơn Công ty TNHH Dủy quyền cho ông Trần Thanh H và ông Hà Mạnh H1 tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông H, ông H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH D đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn Công ty TNHH Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH D số tiền gốc còn thiếu chưa thanh toán là 3.449.312.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 02/01/2025 đến ngày 26/6/2025 là 149.752.883 đồng; tổng cộng số tiền là 3.598.864.883 đồng.
- Về số tiền gốc 3.449.312.000 đồng.
[2.1]. Căn cứ vào Hợp đồng mua bán hàng hóa số 112A//HĐMB/DL-SM/2024 ngày 01/12/2024 được ký kết giữa: Bên bán (bên A) Công ty TNHH D – đại diện bà Nguyễn Thị H2 và Bên mua (bên B) Công ty TNHH Đ1 – đại diện ông Nguyễn Văn M có nội dung: “... Bên A nhận cung cấp cho bên B hàng hóa theo danh sách đính kèm...”;
[2.2]. Căn cứ vào phụ lục hợp đồng số 01 theo hợp đồng số 112A//HĐMB/DL-SM/2024 ngày 01/12/2024 được ký kết giữa: Bên bán (bên A) Công ty TNHH D – đại diện bà Nguyễn Thị H2 và Bên mua (bên B) Công ty TNHH Đ1 – đại diện ông Nguyễn Văn M có nội dung: “... Bên B cam kết thanh toán hết 100% tiền hàng sau 30 ngày, kể từ ngày ký phụ lục hợp đồng mua hàng hóa theo hợp đồng nay, tổng số sản phẩm là 431.164 sản phẩm, giá bán 8.000 đồng/sản phẩm, tổng tiền 3.449.312.000 đồng...”;
[2.3]. Căn cứ vào biên bản xác nhận công nợ 05/01/2025 được ký kết giữa đại diện Công ty TNHH Đ1 - ông Nguyễn Văn M và đại diện Công ty TNHH D–bà Nguyễn Thị H2 có nội dung “...khoản nợ mua hàng hóa bên ông M còn nợ bà H2 là: Tổng số sản phẩm 431.164 sản phẩm x 8.000 đồng, tổng tiền là 3.449.312.000 đồng, ông M thanh toán 40% số tiền vào ngày 10/01/2025, còn lại 60% sẽ thanh toán hết trước ngày 20/01/2025 cho bà H2...";
[2.4]. Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, cũng như sự trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, thì khi các bên thực hiện hợp đồng mua bán (nêu trên), nguyên đơn đã thực hiện việc giao hàng cho bị đơn theo thỏa thuận trong hợp đồng; ngày 05/01/2025 bị đơn có làm biên bản đối chiếu công nợ, xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 3.449.312.000 đồng; tuy nhiên sau khi xác nhận công nợ phía bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ cho nguyên đơn như cam kết; là có căn cứ phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2.5]. Điều 306 Luật thương mại năm 2005 quy định về Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán như sau “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
- Về số tiền lãi tính từ ngày 21/01/2025 đến ngày 21/6/2025 theo mức lãi suất tính trung bình tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 9%/năm với số tiền là 149.752.883 đồng, từ ngày 22/6/2025 đến ngày 26/6/2025 nguyên đơn tự nguyện không tính lãi;
[2.6]. Xét hợp đồng mua bán hành hóa giữa các bên không có thỏa thuận về lãi suất, tuy nhiên bị đơn không thực hiện việc trả nợ như cam kết; nguyên đơn căn cứ vào Điều 306 của Luật thương mại 2005 để yêu cầu tính lãi suất nợ quá hạn trung bình 9%/năm tại thời điểm xét xử là phù hợp đúng với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận
[2.7]. Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
[2.8]. Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: Buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc còn thiếu là 3.449.312.000 đồng và tiền lãi là 129.341.700 đồng; tổng cộng số tiền là 3.578.453.700 đồng
[3]. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trong vụ án dân sự: 103.569.074 đồng bị đơn phải chịu. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn số tiền đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 50, 55 và 306 của Luật Thương mại năm 2005.
Điều 357, 468 Luật dân sự năm 2015
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty TNHH D tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:
Buộc bị đơn – Công ty TNHH Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn – Công ty TNHH D số tiền gốc là 3.449.312.000 đồng và tiền lãi là 129.341.700 đồng; tổng cộng số tiền là 3.578.453.700 (ba tỷ, năm trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi ba nghìn, bảy trăm) đồng.
Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trong vụ án dân sự là: 103.569.074 (một trăm lẻ ba triệu, năm trăm sáu mươi chín nghìn, không trăm bảy mươi bốn) đồng Công ty TNHH Đ1 phải chịu.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH D số tiền 51.568.000 (năm mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0073192 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Tp .
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa, đổi bổ sung một số Điều năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Tình |
Bản án số 211/2025/KDTM-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 211/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 50, 55 và 306 của Luật Thương mại năm 2005. Điều 357, 468 Luật dân sự năm 2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty TNHH Deerlet Việt Nam tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: Buộc bị đơn – Công ty TNHH đầu tư và phát triển Small Duck Việt Nam phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn – Công ty TNHH Deerlet Việt Nam số tiền gốc là 3.449.312.000 đồng và tiền lãi là 129.341.700 đồng; tổng cộng số tiền là 3.578.453.700 (ba tỷ, năm trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi ba nghìn, bảy trăm) đồng. Kể từ ngày bản án, có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm trong vụ án dân sự là: 103.569.074 (một trăm lẻ ba triệu, năm trăm sáu mươi chín nghìn, không trăm bảy mươi bốn) đồng Công ty TNHH đầu tư và phát triển Small Duck Việt Nam phải chịu. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH Deerlet Việt Nam số tiền 51.568.000 (năm mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0073192 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh. 3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. 4. Quyền yêu cầu thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa, đổi bổ sung một số Điều năm 2014)./.
