TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG Bản án số: 211/2025/DS-ST Ngày: 26 – 12 – 2025 V/v “tranh chấp đòi lại tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân, bà Nguyễn Thị Kim Chi.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Đòi lại tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 38/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Kim K, sinh năm 1957. Căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: Số B, ấp A, xã C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lê Thị Bé B, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp T, xã P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2025, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Phạm Kim K trình bày:
Bà và Lê Thị Bé B là bạn bè thông qua giới thiệu của người khác nên có cho Lê Thị B1 Ba vay số tiền tổng cộng là 42.500.000 đồng gồm các ngày: ngày 10/7al/2007 vay 5.000.000 đồng, 10/10al/2007 vay 10.000.000 đồng, ngày 19/8al/2008 vay 5.000.000 đồng, ngày 25/8al/2008 vay 10.000.000 đồng và 12.500.000 đồng. Lãi suất thoả thuận 5%/tháng, các lần Bé B nhận tiền tại nhà của bà, không có ai chứng kiến. Mục đích vay tiền không biết nhưng sau này thấy Bé B mua xe Honda để sử dụng. Bé B nói mượn đỡ vài tháng sau sẽ trả. Tuy nhiên sau khi nhận tiền thì không trả lãi, mặc dù đòi rất nhiều lần Bé B vẫn không trả vốn và lãi.
Trong số 05 lần vay tiền thì biên nhận ngày 10/7al/2007 có ghi “Em là Bé Ba có nhận phần tiền của anh H là 5.000.000 đồng”, thực chất là do bà mượn tiền của anh H, sau đó dùng tiền của anh H để cho Bé Ba vay lại 5.000.000 đồng, bà đã trả cho anh H xong, Bé B đồng ý ký tên mượn anh H là do bà với Bé Ba thoả thuận. Biên nhận ngày 25/8al/2008 có nội dung “Tôi Lê Thị Bé B có nhận số tiền của chị K trả qua cho ông H. Chị K sẽ gởi Bé Ba trả đủ cho Anh Hùng Phú T 10.000.000 đồng” là do bà vay tiền ngân hàng dùm cho anh H, bà đưa 10.000.000 đồng cho Bé Ba đưa cho anh H nhưng Bé Ba không đưa, vì vậy bà đã trả 10.000.000 đồng cho anh H, Bé B đồng ý ký biên nhận nợ bà 10.000.000 đồng. Anh H không tranh chấp và không liên quan gì trong vụ án này, bà cũng không biết cụ thể họ tên gì, năm sinh, nơi cư trú ở đâu, còn sống hay chết. Đối với số tiền 12.500.000 đồng bên gốc phải biên nhận ghi ngày 25/8al ký tên Lê Thị Bé B, bên gốc trái ghi “Bé Ba Phú Tân B2 Ba nhận tiền của bà Thiên H1 tháng cung 12.500.000 đồng”, đây là tiền Bé Ba nợ của thiên hậu thánh cung, bà đã trả dùm cho bé B và do bà viết dòng chữ này. Do thời điểm năm 2008 thấy Bé Ba còn khó khăn, không có điều kiện trả tiền nên không khởi kiện, đến năm 2025 thì Bé Ba đã có tài sản nhưng vẫn không trả nợ, biết rằng đã quá thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay nên chỉ khởi kiện đòi lại số tiền gốc 42.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên toà, bà K tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng của biên nhận ngày 10/7al/2007 và 12.500.000 đồng của biên nhận 25/8al/2008 do có nội dung không rõ ràng chưa thể hiện Bé Ba có nợ bà, bà sẽ tranh chấp bằng vụ án dân sự khác.
Đối với bị đơn bà Lê Thị Bé B: Tòa án đã triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng từ chối nhận văn bản, vắng mặt không có lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang
Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:
Quan điểm giải quyết vụ án: Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Kim K đối với bị đơn bà Lê Thị Bé B về việc đòi số tiền 17.500.000 đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim K, buộc bà Lê Thị Bé B có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Kim K số tiền 25.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu). Bà Lê Thị B1 Ba phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay vốn gốc 42.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi do từ ngày vay 25/8al/2008 đến nay đã quá thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do đó, quan hệ pháp luật là “Đòi lại tài sản” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại ấp T, xã P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Lê Thị Bé B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Bé B.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, biên nhận ngày 10/7al/2007 có ghi anh H liên quan đến số tiền bà B1 Ba vay 5.000.000 đồng nhưng do bà K không cung cấp được thông tin họ và tên, năm sinh, nơi cư trú của anh H nên Toà án không đưa anh H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1.4] Tại phiên toà, nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền của biên nhận ngày 10/7al/2007 là 5.000.000 đồng, ngày 25/8al/2008 là 12.500.000 đồng, tổng cộng 17.500.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, nên đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 17.500.000 đồng theo quy định tại Điều 5, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo đơn khởi kiện, bà Phạm Kim K khởi kiện bà Lê Thị Bé B để đòi lại số tiền vay vốn gốc 42.500.000 đồng với chứng cứ là biên nhận ngày 10/7al/2007 số tiền 5.000.000 đồng, ngày 10/10al/2007 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 19/8al/2008 số tiền 5.000.000 đồng, ngày 25/8/2008 số tiền 10.000.000 đồng và 12.500.000 đồng. Bà Bé B đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định pháp luật, nhưng từ chối nhận văn bản và không có ý kiến về chứng cứ của bà K cung cấp, không có ý kiến phản bác hay phản tố lại yêu cầu của bà K. Do bà Bé B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Tòa án chỉ căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong vụ án để giải quyết.
Xét chứng cứ trong vụ án thấy rằng: Đối với biên nhận ngày 10/10al/2007 thể hiện nội dung “Tôi Lê Thị Bé B có nhận của chị N Khuyến 10.000.000 đồng”, biên nhận ngày 19/8al/2008 thể hiện nội dung “Tôi Lê Thị Bé B có nhận của chị K 5.000.000 đồng” và biên nhận ngày 25/8al/2008 có nội dung “Tôi Lê Thị Bé B có nhận số tiền của chị K trả qua cho ông H. Chị K sẽ gởi Bé Ba trả đủ cho Anh Hùng Phú T 10.000.000 đồng”, các biên nhận này do bà Lê Thị B1 Ba viết và ký tên, ghi họ và tên, vì vậy có căn cứ bà B1 Ba có nợ bà K tổng số tiền 20.000.000 đồng. Đối với biên nhận ngày 10/7al/2007 có ghi Bé Ba có nhận phần tiền của anh H là 5.000.000 đồng, không thể hiện nhận tiền của bà K. Đối với biên nhận ngày 19/8/2008, gốc trái ghi “Bé Ba Phú Tân B2 Ba nhận tiền của bà Thiên H1 tháng cung 12.500.000 đồng”, bà K xác định dòng chữ này do bà K ghi, không phải của Bé Ba. Do nội dung cả 02 biên nhận không thể hiện được bà Bé B nhận tiền của bà K 5.000.000 đồng và 12.500.000 đồng, bà K cũng không cung cấp thông tin họ tên của ông H nên Toà án không thể xác minh thu thập chứng cứ đối với biên nhận ngày 10/7al/2007. Tại phiên toà, bà K tự nguyện rút yêu cầu đối với số tiền 02 biên nhận nói trên nên không xem xét, bà K có quyền khởi kiện bà B2 Ba đối với số tiền 17.500.000 đồng bằng một vụ án dân sự khác.
[2.2] Bà Bé Ba xác định hai bên thoả thuận vay có lãi và thoả thuận thời hạn trả vài tháng sau khi vay tiền nên đây là hợp đồng vay có kỳ hạn. Bà K biết quyền lợi, ích hợp pháp bị xâm phạm nhưng không khởi kiện, đến ngày 10/9/2025 bà K khởi kiện đã hết thời hiệu tranh chấp hợp đồng vay nên bà không yêu cầu tính lãi, vì vậy Hội đồng xét xử chỉ xem xét buộc bà Lê Thị B1 Ba trả lại cho bà số tiền vốn gốc. Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 256, Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị B1 Ba phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Kim K số tiền 25.000.000 đồng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như đã nêu trên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đề nghị của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Kim K không phải chịu án do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Bà Lê Thị B1 Ba phải chịu án phí dân sự đối với số tiền phải trả là 1.250.000 đồng (25.000.000 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256, Điều 471, Điều 474, Điều 478 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Kim K đối với bị đơn bà Lê Thị Bé B về việc đòi lại số tiền 17.500.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Kim K đối với bị đơn bà Lê Thị Bé B về việc đòi lại tài sản.
Buộc bà Lê Thị Bé B có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Kim K số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị B1 Ba phải chịu án phí dân sự là 1.250.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu hai trăm năm mươi ngàn).
Bà Phạm Kim K không phải chịu án phí và thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Kim K có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị B1 Ba vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Hội thẩm nhân dân toà | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 211/2025/DS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 211/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản
