TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2025/DS-ST
Ngày: 20-6-2025;
V/v tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hải Phùng.
2. Bà Nguyễn Thị Cờ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-DS ngày 16/01/2025 về: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122 ngày 29/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 135 ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là S1); Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc; Trụ sở: 266-268 N, phường V, Quận C, Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Người được ủy quyền lại: Ông Phan A; Địa chỉ: Tầng G - F N, phường L, Đ, Hà Nội.
Bị đơn: Ông Lương Lâm D1, sinh năm: 1971; Căn cước công dân: [...]; Đăng ký thường trú: Số D ngõ B Đ, phường K, quận Đ, Hà Nội.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ, nội dung trình bày của ông Phan A - người đại diện theo ủy quyền của S1, nội dung vụ án như sau:
Ngày 21/7/2018 ông Lương Lâm D1 ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho khách vay cá nhân) - gọi tắt là hợp đồng thẻ tín dụng; Theo hợp đồng thẻ tín dụng: ông Lương Lâm D1 đề nghị S1 thẻ tín dụng loại Thẻ tín dụng quốc tế Visa Platinum và thẻ tín dụng quốc tế Car Card với hạn mức mong muốn là 200 triệu đồng; Ngày 23/7/2018, S1 ký đồng ý phê duyệt hạn mức tín dụng là 150 triệu đồng. S1 đã cấp 02 thẻ tín dụng cho ông D1 với số thẻ 356481-1237 và 436438-5940.
S1 do ông Phan A đại diện theo ủy quyền trình bày:
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Lương Lâm D1 đã sử dụng thẻ tín dụng, và vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cụ thể:
Ông Lương Lâm D1 đã sử dụng thẻ tín dụng, do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; Ngân hàng đã đôn đốc yêu cầu ông Lương Lâm Duy thực H nghĩa vụ thanh toán nhưng ông Lương Lâm D1 không thực hiện; Ngày 26/01/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 436438-5940 và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản; Ngày 23/01/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 356481-1237 và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản.
Tính từ ngày kích hoạt thẻ đến khi Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án ông Lương Lâm D1 đã giao dịch với tổng số tiền 907.685.811 đồng, đã thanh toán tổng số tiền 847.751.640 đồng.
Ngân hàng đề nghị Tòa án, xem xét, giải quyết, buộc ông Lương Lâm D1 phải trả ngay Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/4/2025 là 497.810.512 đồng, gồm nợ gốc 171.844.879 đồng, nợ lãi quá hạn 315.652.848 đồng, trong đó:
Thẻ 356481-1237: Nợ gốc 42.516.462 đồng; Lãi quá hạn 85.725.321 đồng.
Thẻ 436438-5940: Nợ gốc 129.328.417 đồng; Lãi quá hạn 240.240.312 đồng.
Ông Lương Lâm D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
* Bị đơn - ông Lương Lâm D1: Đã được triệu tập nhiều lần hợp lệ, nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn do ông Phan A đại diện theo ủy quyền vắng mặt; Ông Phan A nộp Bản tự khai và nộp đơn đề nghị Tòa án cho được vắng mặt.
Theo Bản tự khai S1 đề nghị Tòa án: Xem xét, giải quyết, buộc ông Lương Lâm D1 phải trả ngay Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 20/6/2025 tổng cộng là 510.227.947 đồng, gồm:
Thẻ 356481-1237: Nợ gốc 131.502.772 đồng; Lãi quá hạn 88.986.310 đồng.
Thẻ 436438-5940: Nợ gốc 378.725.175 đồng; Lãi quá hạn 249.396.758 đồng.
Ông D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 20/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên Tòa có ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 90; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác nhận ông Lương Lâm D1 nợ S1 tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 510.227.947 đồng.
Buộc ông Lương Lâm D1 trả S1 số nợ trên và buộc ông Lương Lâm D1 tiếp tục trả S1 lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ theo quy định; Án phí: Ông Lương Lâm D1 phải chịu án phí dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Tố tụng:
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp phát sinh giữa một bên là cá nhân và một bên là pháp nhân liên quan đến nghĩa vụ thanh toán tiền trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng”.
- Thẩm quyền: Ông Lương Lâm D1 có đăng ký thường trú tại phường K, quận Đ, Hà Nội; Theo hợp đồng thể hiện ông D1 có nơi cư trú trên; Theo biên bản làm việc với Công an phường K thì ông D1 không còn sinh sống tại địa chỉ trên, đi đâu không rõ.
Nhận thấy: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã chuyển dịch nơi cư trú nhưng không thông báo lại cho ngân hàng, không khai báo cư trú theo quy định nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 40 Bộ luật dân sự; Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.
- Xét đương sự vắng mặt:
Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn vắng mặt.
Nhận thấy: Việc ông D1 không còn sinh sống tai nơi đăng ký thường trú. Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Tuy nhiên, ông D1 thay đổi nơi sinh sống, không thông báo địa chỉ mới của mình cho S1, không thông báo thay đổi nơi cư trú với cơ quan có thẩm quyền. Do đó, đây được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự, gồm: Thông báo thụ lý, thông báo về việc tự khai, giấy triệu tập; thông báo 02 phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên ông Lương Lâm D1 đều vắng mặt. Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp pháp luật; Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt ông Lương Lâm D1 và S1.
- Nội dung:
- Xét hiệu lực của hợp đồng:
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 21/7/2018 ông Lương Lâm D1 đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho khách vay cá nhân) - gọi tắt là hợp đồng thẻ tín dụng; Theo hợp đồng thẻ tín dụng: ông Lương Lâm D1 đề nghị S1 cấp 02 thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 200 triệu đồng. Ngày 23/7/2018, S1 ký đồng ý phê duyệt hạn mức tín dụng là 150 triệu đồng. S1 đã cấp 02 thẻ tín dụng cho ông D1 với số thẻ 356481-1237 và 436438-5940.
Nhận thấy: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự; Việc ký kết trên là sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với Điều 116, Điều 118, Điều 119, Điều 385, Điều 398, Điều 463 và Điều 401 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý; các bên có quyền, nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng.
- Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng thẻ tín dụng:
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Lương Lâm D1 đã sử dụng thẻ tín dụng, phát sinh nghĩa vụ trả phí, do ông D1 không thực hiện đầy đủ, vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên phải chịu khoản phí vượt hạn mức; từ ngày kích hoạt thẻ đến khi Ngân hàng khởi kiện ra Tòa án, ông Lương Lâm D1 đã giao dịch thẻ tín dụng số 356481-1237 với tổng số tiền giao dịch là 420.293.445 đồng, đã thanh toán số tiền 405.002.000 đồng; Thẻ tín dụng số 436438-5940 với tổng số tiền giao dịch là 487.365.366 đồng, đã thanh toán số tiền 442.749.640 đồng.
Khi ông Lương Lâm D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; Ngân hàng đã yêu cầu ông Lương Lâm Duy thực H nghĩa vụ thanh toán nhưng ông Lương Lâm D1 không thực hiện, ngày 26/01/2021 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 436438-5940; ngày 23/01/2021 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 356481-1237 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản.
Nhận thấy: Tại mục 18, 19, 23 và mục 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân có quy định: Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức.
Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc là 171.7844.879 đồng gồm: Thẻ 356481-1237: Nợ gốc 131.502.772 đồng và T 436438-5940: Nợ gốc 378.725.175 đồng là phù hợp với sự thỏa thuận của các bên, phù hợp với Bản Điều khoản và điều kiện do S1 phát hành; phù hợp với Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.
- Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng thẻ tín dụng:
Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện quy định:
Chủ thẻ phải thanh toán, bị áp dụng lãi suất quá hạn (150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ.
Ông Lương Lâm D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/01/2021 đối với thẻ 436438-5940, ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản nên ông D1 phải chịu lãi suất quá hạn trên số nợ do chậm thanh toán với mức lãi suất là 2,4%x150%x 12 tháng = 43,2%/năm; Ngày 23/01/2021 đối với thẻ 356481-1237, ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản nên ông D1 phải chịu lãi suất quá hạn trên số nợ do chậm thanh toán với mức lãi suất là 2,6%x150%x 12 tháng = 46,8%/năm.
Đối chiếu với quy định tại Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 và Điều 13 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, (trừ trường hợp Ngân hàng N có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 của Điều 13) thấy, mức lãi suất S1 áp dụng đối với khoản nợ của ông D1 là phù hợp pháp luật; Căn cứ Khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 357, Điều 466 Bộ luật dân sự; chấp nhận yêu cầu của S1 về việc buộc bị đơn trả tiền nợ lãi tính đến ngày 20/6/2025 là 338.383.068 đồng (Thẻ 356481-1237: Lãi quá hạn 88.986.310 đồng và Thẻ 436438-5940: Lãi quá hạn 249.396.758 đồng) và ông D1 tiếp tục phải trả lãi quá hạn phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay theo 02 thẻ tín dụng.
- Xét hiệu lực của hợp đồng:
- Ông D1 không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định; Hội đồng xét xử căn cứ những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Án phí: Ông Lương Lâm D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 226; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 275, 278, 280, 357, 401, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- - Khoản 2 Điều 3; khoản 3 Điều 90; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
- - Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019.
- - Điều 3, 24, 25, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S khởi kiện đối với ông Lương Lâm D1 về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng.
- Xác nhận ông Lương Lâm D1 nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 510.227.947 đồng, cụ thể:
Thẻ 356481-1237: Nợ gốc 131.502.772 đồng; Lãi quá hạn 88.986.310 đồng.
Thẻ 436438-5940: Nợ gốc 378.725.175 đồng; Lãi quá hạn 249.396.758 đồng.
Buộc ông Lương Lâm D1 trả Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 20/6/2025 là 510.227.947 đồng.
Buộc ông Lương Lâm D1 tiếp tục phải chịu lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 21/6/2025 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ gốc, theo mức lãi suất quy định tại Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019.
- Án phí: Ông Lương Lâm D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.409.117 đồng. Hoàn trả Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.786.025 đồng Theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 2592671 ngày 30/12/2024 do ông Phan A nộp trực tuyến (Thông báo số 440 ngày 23/12/2024; Mã tham chiếu G22.99.7-241230521902).
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngân hàng TMCP S; Ông Lương Lâm D1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hà |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 211/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
- Số bản án: 211/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sacombank khởi kiện Duy
