|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 211/2024/HSST Ngày 10/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương;
Ông Trần Đức Anh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 183/2024/TLST-HS, ngày 02/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HS ngày 29/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Tiến D, sinh năm 1976 tại Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Không có chỗ ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Hà Quang Ú, sinh năm 1932; Già yếu; Họ và tên mẹ: Chu Thị T, sinh năm: 1931; Già yếu; Họ và tên vợ: Chu Thị Thanh T1, sinh năm: 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Có 03 con: Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2016; D1 chỉ bản số 217 do Công an quận B lập ngày 26/4/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 35/2011/HSST ngày 15/9/2011, Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 tháng 22 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam) về tội Đánh bạc; Bị cáo đã chấp hành xong các nghĩa vụ tại bản án; Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/4/2024 ; Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam H3 ; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Quang T2, sinh năm:1997; Nơi thường trú: Tổ dân phố số C phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Tiến D và Hà Tiến M là bạn cùng quê, cùng làm điện nước và ở cùng phòng trọ với nhau tại Hà Nội. Ngày 17/3/2024, do cần tiền mua dụng cụ làm việc và cần tiền tiêu sài cá nhân nên cả hai rủ nhau đi thuê xe máy để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu.
Khoảng 19 giờ ngày 17/3/2024, bị cáo và Hà Tiến M đến cửa hàng cho thuê xe máy của anh Nguyễn Quang T2 tại số G Đ, phường P, quận B hỏi thuê 02 chiếc xe máy. Anh T2 cho bị cáo và anh M thuê 02 xe máy gồm xe Honda Wave màu xanh, BKS: 26C1-25110 và xe Airblade màu đen vàng, BKS: 98B3-716.80, thời hạn thuê là 05 ngày, mỗi ngày 220.000 đồng/2 xe. Hợp đồng thuê xe do bị cáo D đứng tên bên thuê xe. Bị cáo D và anh M đặt cọc 1.500.000 đồng cùng với giấy phép lái xe của bị cáo D. Việc giao dịch thuê xe là anh M giao dịch nhưng anh M không có giấy tờ tùy thân nên bị cáo M đứng ra kí hợp đồng và cầm cố giấy tờ tùy thân.
Sau khi nhận xe, do trước đó anh M đã liên lạc với anh Nguyễn Bá H (sinh năm 1994; Nơi thường trú: Số G H, phường N, quận T, Hà Nội) qua mạng xã hội để cầm cố xe nên anh M điều khiển xe Honda Wave BKS 26C1-25110 và bị cáo D điều khiển xe Honda Air Blade BKS 98B3-716.80 đi đến đầu ngõ C N, quận T, Hà Nội gặp anh H và cầm cố 02 chiếc xe máy trên cho anh H với giá 15.000.000 đồng. Anh H chuyển tiền vào tài khoản 0332568547 của bị cáo D mở tại Ngân hàng V. Do trước đó, anh H đã nhận cầm cố xe máy của anh M một lần và anh M đã đến lấy lại xe và trả tiền như thỏa thuận nên có sự tin tưởng lẫn nhau nên việc cầm cố hai chiếc xe trên không làm giấy tờ. Do bị cáo D và anh M ngay từ đầu có ý định bán xe chứ không chuộc lại nên không thỏa thuận thời gian lấy lại xe.
Số tiền 15.000.000 đồng bị cáo D và anh M đã tiêu sài cá nhân hết.
Quá thời hạn trả xe, bị cáo D và anh M không đến trả xe. Ngày 22/3/2024, anh T2 gọi điện cho bị cáo D nhưng không được. Ngày 25/3/2024, anh T2 dò theo định vị lắp trên xe nên biết được chiếc xe Honda Wave, BKS: 26C1-25110 đang lưu thông tại khu vực T, quận H, Hà Nội nên đã tìm gặp một nam thanh niên (không xác định được nhân thân) đang điều khiển xe máy trên. Sau khi anh T2 trao đổi lại sự việc về chiếc xe thì nam thanh niên đó đã đồng ý để lại xe và bỏ đi. Anh T2 đã mang chiếc xe trên về cửa hàng. Sau đó, anh T2 tiếp tục liên hệ với bị cáo D để lấy lại chiếc xe Honda Airblade, BKS: 98B3-716.80 nhưng không liên lạc được. Ngày 20/4/2024, anh T2 gặp bị cáo D trên đường N, quận T nên đã đưa bị cáo về trụ sở công an trình báo.
Về vật chứng vụ án: Thu giữ của anh Nguyễn Quang T2: 01 Hợp đồng thuê xe số 14/HĐTX ngày 17/3/2024 của Công ty TNHH T3; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 26002706 nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, BKS: 26C1-251.10; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 211832 nhãn hiệu H4, BKS: 98B3-71680; 01 xe
máy Honda Wave màu xanh đen, đã qua sử dụng, BKS: 26C1-251.10, SK: RLHJA3925MY155593, SM: JA39E2273759; 01 Giấy phép lái xe mang tên Hà Tiến D; Thu giữ của bị cáo Hà Tiến D: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9c màu xanh, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 303 ngày 05/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe máy Honda Wave màu xanh, mang BKS: 26C1-25110, tài sản đã qua sử dụng, thu giữ được tài sản trị giá 11.000.000đồng; 01 xe máy Airblade màu đen vàng đồng, BKS: 98B3-716.80 tài sản đã qua sử dụng, không thu giữ được, có tài sản tương tự trị giá 19.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 4447/KL-KTHS ngày 12/7/2024, V1 Bộ C kết luận về giám định chữ viết của bị cáo Hà Tiến D trên Hợp đồng thuê xe: “1. Chữ ký, chữ viết đứng tên Hà Tiến D dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Hà Tiến D trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra. 2. Chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A (trừ chữ viết dưới các mục “ĐẠI DIỆN BÊN A”, “ĐẠI DIỆN BÊN B”) so với chữ viết của Hà Tiến D trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 không phải do cùng một người viết ra”
Nguồn gốc hai chiếc xe máy bị cáo chiến đoạt của anh T2: Anh T2 mua lại của người không quen, do thời gian đã lâu nên anh không nhớ thông tin cụ thể. Chiếc xe Honda Wave, BKS: 26C1-25110 đăng ký xe mang tên anh Lò Văn H1, sinh năm : 1993; Trú tại: bản P, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La, chiếc xe Honda Airblade, BKS: 98B3-716.80 đăng ký xe mang tên anh Bùi Văn M1, sinh năm: 1971; Trú tại: Trại Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cả hai xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Anh H1 và anh M1 trình bày là chính chủ xe, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán cho người khác. Ngày 26/4/2024, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 26C1-25110 cùng 01 đăng ký xe và 01 đăng ký xe máy Honda Airblade, BKS: 98B3-716.80 cho anh Nguyễn Quang T2, anh T2 đã nhận lại xe. Tại phiên tòa, anh T2 yêu cầu bị cáo D bồi thường cho trị giá chiếc xe Honda Airblade như đã được định giá là 19.000.000 đồng. Bị cáo D đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh T2.
Đối với anh Nguyễn Bá H: Anh H và anh M đã có quan hệ từ trước do anh M từng cầm cố xe cho anh H và sau đấy đã chuộc lại. Khi nhận cầm xe, anh H đã hỏi nguồn gốc xe, anh M bảo xe của M, có giấy tờ đầy đủ nhưng để giấy tờ ở nhà và sẽ đưa sau nên H chỉ cầm cố 02 xe máy với giá 15.000.000 đồng. Anh M bảo anh H chuyển tiền vào số tài khoản của bị cáo D. Khi nhận cầm cố, anh H không nhớ có viết giấy tờ không, chỉ nhớ thoả thuận là sau 10 ngày nếu M và D không đến chuộc xe thì anh H sẽ thanh lý xe. Sau đó, anh H đã đưa xe Honda Wave cho người em gần nhà đi thì chủ chiếc xe trên thấy và đưa ra giấy tờ xe hợp pháp nên anh H đã trả lại xe. Ngày 10/4/2024, bị cáo D gọi cho anh H để chuộc xe nhưng không đến chuộc xe nên anh H đã bán chiếc xe Airblade cho một
người không quen biết, không rõ nhân thân qua mạng xã hội. Anh H nhận của bị cáo D 8.500.000 đồng tiền chuộc xe vì đó là trị giá chiếc xe Wave H2 đã trả cho chủ xe. Khi nhận cầm cố xe, anh H2 không biết 2 xe do M và bị cáo D phạm tội mà có.
Đối tượng Hà Tiến M: Là người cùng quê với bị cáo D, hai bên cùng đi làm điện nước, liên lạc với nhau qua zalo, nên bị cáo không có số điện thoại của M. Sau khi sự việc xảy ra, M đã không ở trọ cùng bị cáo, bị cáo cũng không liên lạc được với M. Chính quyền nơi cư trú của anh M ở xã T, huyện T cung cấp: Anh M không có mặt tại địa phương, không biết M đi đâu làm gì, anh M không còn hộ khẩu tại xã T, huyện T nên Công an xã không cấp lý lịch của anh M cho cơ quan điều tra. Do chưa xác định được nhân thân lai lịch của Hà Tiến M nên ngày 19/7/2024, cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 3796 tách hành vi và tài liệu liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hà Tiến M để tiếp tục điều tra làm rõ.
Tại Bản cáo trạng số 182/CT-VKS, ngày 01/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Hà Tiến D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Tiến D mức án từ 15 - 20 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo; Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 19.000.000 đồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật ; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 9c màu xanh, đã qua sử dụng.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo gì đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về tội danh, khung hình phạt:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ
căn cứ xác định: Ngày 17/3/2024, tại cửa hàng cho thuê xe máy của anh Nguyễn Quang T2 ở số G Đ, phường P, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo Hà Tiến D đã dùng thủ đoạn gian dối là thuê xe máy 01 Honda Wave mang BKS 26C1 - 25110 trị giá 11.000.000 đồng và 01 xe máy Honda Air Blade mang BKS 98B3-716.80 trị giá 19.000.000 đồng của anh Nguyễn Quang T2 để chiếm đoạt 02 chiếc xe trên để cầm cố cả hai chiếc cho anh Nguyễn Bá H được 15.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 30.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin đối với bị hại, chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự.
4.3. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý về hình sự và đã được xóa án tích (Tại Bản án số 35/2011/HSST ngày 15/9/2011, Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 03 tháng 22 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam) về tội Đánh bạc và đã chấp hành xong các quyết định khác trong bản án) nhưng thể hiện bị cáo đã bị xử phạt và giáo dục bằng pháp luật hình sự nhưng lại vi phạm pháp luật.
[5] Về hình phạt
5.1. Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính giáo dục và phòng ngừa chung.
5.2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác:
6.1. Về dân sự: Bị cáo chiếm đoạt hai chiếc xe máy. Chiếc xe Honda Wave, BKS: 26C1-25110, Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh T2. Tại phiên tòa, anh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh 19.000.000 đồng là trị giá chiếc xe Honda Airblade mang BKS 98B3-
716.80 chưa thu hồi được theo giá trị hội đồng định giá đã định giá, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh T2. Xét yêu cầu bồi thường của anh T2 là có căn cứ, cần buộc bị cáo bồi thường cho anh T2 toàn bộ giá trị chiếc xe. Bị cáo có quyền khởi kiện đối với anh Hà Tiến M về việc hoàn trả cho bị cáo một phần số tiền bị cáo đã bồi thường thay cho anh M giá trị chiếc xe máy này bằng vụ án dân sự khác.
6.2. Về vật chứng: Chiếc điện thoại Redmi 9C thu giữ của bị cáo, là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.
6.3. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho bị hại, mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hà Tiến D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Tiến D 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2024 .
4. Về các vấn đề khác
4.1. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Redmi 9C màu xanh đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận số 257/24 ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
4.2. Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Quang T2 số tiền 19.000.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành số tiền nêu trên của anh T2, nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên cho anh T2 thì bị cáo phải chịu một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa trả.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4.2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 211/2024/HSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 211/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 17/3/2024, tại cửa hàng cho thuê xe máy của anh Nguyễn QT ở số 1 phố D, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Hà TD đã dùng thủ đoạn gian dối là thuê xe máy 01 Honda Wave mang BKS 26C1 - 25110 trị giá 11.000.000 đồng và 01 xe máy Honda Air Blade mang BKS 98B3-716.80 trị giá 19.000.000 đồng của anh Nguyễn QT để chiếm đoạt 02 chiếc xe trên để cầm cố cả hai chiếc cho anh Nguyễn BH được 15.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân.
