|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 211/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 30-7-2024. V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ Hưu trí.
- Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ Hưu trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn H) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 733/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/QĐXXST-HNGĐ ngày ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp Ô, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Trần Vũ E, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Hưng, huyện Cái Bèm tỉnh Tiền Giang
Tạm trú: Ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 06/6/2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày như sau: Chị và anh Trần Vũ E đăng ký kết hôn vào ngày 26/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc, thời gian về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Vũ E không có trách nhiệm với chị và con chung, anh Trần Vũ E đi làm cả năm không về thăm chị và con chung lần nào nên mâu thuẫn không thể nào hàn gắn lại được nên Chị xin được ly hôn với anh Trần Vũ E.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 03/07/2020 hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Nguyễn Hoàng Â.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Trần Vũ E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T cũng như không tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Vũ E, anh Trần Vũ E hiện có đang tạm trú tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Trần Vũ E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không không tham gia tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt anh Trần Vũ E theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thanh T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Trần Vũ E sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 26/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc, thời gian về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Trần Vũ E không có trách nhiệm với chị và con chung nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể nào hàn gắn lại được nên chị xin được ly hôn với anh Trần Vũ E. Anh Trần Vũ E vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T.
[3] Xét thấy, chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Trần Vũ E sống với nhau và phát sinh mâu thuẫn nhưng không tự giải quyết được, chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Trần Vũ E cũng không tìm ra được biện pháp gì để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Trần Vũ E đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, chị Nguyễn Thị Thanh T xin ly hôn với anh Trần Vũ E là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Trần Vũ E.
[4] Con chung: Con chung tên Trần Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 03/07/2020, hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Thanh T, khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện cháu  đang sống với chị T ổn định, cháu phát triển bình thường. Anh Trần Vũ E cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị T xin nuôi con, nên thấy cần thiết để cho chị T tiếp tục nuôi con là phù hợp, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[6] Nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[7] Đối với anh Trần Vũ E không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị T cũng không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[8] Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 33, Điều 38, Điều 56, Điều 59, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Trần Vũ E về việc “ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Vũ E.
Việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thanh T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 03/07/2020, anh Trần Vũ E không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T1 không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000đ theo biên lai thu số 0004781 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |
Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
