|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST. Ngày 07 – 10 – 2024. V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Như Nguyện.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Kim Trung Dũng.
Bà Lý Thị Thu Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Khánh. Thẩm tra viên Toà án nhân dân
thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 07 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2024/TLST – HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 128/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lý N.
Địa chỉ: Ấp Trương Hiền, xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Vắng
mặt.
- Bị đơn: Chị Danh Thị Y.
Địa chỉ: Khu vực 4, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lý N trình bày: Anh và chị Danh Thị Y chung sống với nhau vào năm 2019, đến năm 2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Trị, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải vã. Đến năm 2022 vợ chồng sống ly thân đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh quyết định ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Lý Gia B (giới tính nam), sinh ngày 13/7/2020, hiện đang sống chung với mẹ là chị Danh Thị Y.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nay anh Lý N yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý N yêu cầu được ly hôn với chị Danh Thị Y.
Về con chung: Anh Lý N đồng ý giao con chung cho chị Danh Thị Y nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Lý N vắng mặt, có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn chị Danh Thị Y đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt, nên chưa trình bày ý kiến và chưa đưa ra yêu cầu của mình.
Tại phiên toà chị Danh Thị Y vẫn vắng mặt không có lý do.
Kèm theo đơn khởi kiện, anh Lý N đã nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ là Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh và chị Danh Thị Y (bản sao); Giấy khai sinh của con chung tên Lý Gia B, sinh ngày 13/7/2020 (bản sao); chị Danh Thị Y không có nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý N và chị Danh Thị Y chung sống với nhau vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp. Thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không phù hợp quan điểm trong cuộc sống, khi có mâu thuẫn anh chị đã không tạo điều kiện hàn gắn mà để mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hiện nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Toà án cũng tạo điều kiện hoà giải nhưng chị Danh Thị Y không đến Toà án nên không hoà giải được, hiện nay anh Lý N vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung nếu kéo dài sẽ không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh Lý N được ly hôn với chị Danh Thị Y.
[2] Về con chung: Có 01 con chung tên Lý Gia B (giới tính nam), sinh ngày 13/7/2020, hiện đang sống chung với mẹ là chị Danh Thị Y. Anh Lý N đồng ý giao con chung cho chị Danh Thị Y nuôi dưỡng, không cấp dưỡng, chị Danh Thị Y không có ý kiến. Xét thấy con chung của anh chị chưa thành niên, đã đủ 36 tháng tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi, đã sống với mẹ là chị Danh Thị Y từ khi vợ chồng anh chị ly thân năm 2022 đến nay, hiện nay cuộc sống của cháu Lý Gia B với mẹ đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quyết định giao con chung tên Lý Gia B cho chị Danh Thị Y được quyền nuôi dưỡng. Anh Lý N chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Danh Thị Y chưa có yêu cầu. Nếu sau này các bên có tranh chấp về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lý N khai không có, chị Danh Thị Y cũng không có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành một vụ án khác theo quy định.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc anh Lý N phải chịu.
[5] Đối với sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Anh Lý N là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Danh Thị Y là bị đơn dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập đến dự phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lý N được ly hôn với chị Danh Thị Y.
- Về con chung: Chị Danh Thị Y được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lý Gia B (giới tính nam), sinh ngày 13/7/2020. Anh Lý N chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Danh Thị Y chưa có yêu cầu. Anh Lý N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không sống chung với mình mà không ai được quyền cản trở.
- Án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Buộc anh Lý N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh Lý N đã nộp theo biên lai thu số 0000947 ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lý N và chị Danh Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Như Nguyện |
Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 07/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
