Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 211/2024/DS-PT

Ngày 26-11 - 2024

“Về việc tranh chấp quyền sử dụng

đất và tài sản gắn liền với đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Ái Loan

Ông Ngô Đê

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 236/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 124/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 145/2024/QĐ- PT ngày 12/11/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lý Văn T, sinh năm 1960;
  2. Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Người đại diện theo ủy quyền cho ông Lý Văn T: Anh Huỳnh Tuấn E, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khóm A, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 07/05/2024, có mặt.

  3. Bị đơn có yêu cầu phản tố:
  4. 2.1. Ông Đoàn Văn N, sinh năm 1963;

    2.2. Bà Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm 1971;

    Người đại diện theo ủy quyền cho ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích Đ: Anh Thạch Trần Thế N1, sinh năm 1990, trú tại số E, khóm H, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền đề ngày 25/09/2024, có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích Đ: Luật sư Kim Ron T2 – Công ty L, thuộc đoàn luật sư thành phố H, có mặt.

- Người kháng cáo: 1. Ông Lý Văn T là nguyên đơn trong vụ án

2. Bà Nguyễn Thị Bích Đ là bị đơn trong vụ án.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh theo quyết định kháng nghị số: 119/QĐ-VKS-DS ngày 31/07/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Lý Văn T và các lời khai của người đại diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Tuấn E trình bày và có yêu cầu như sau:

Vào ngày 08/08/2022, thông qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Quốc V là cha nhà thờ Hòa Lạc A, ông Lý Văn T nhận chuyển nhượng thửa đất số 460, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.290m² tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh của ông N và bà Đ đứng tên quyền sử dụng đất với giá 3.000.000.000đồng (Ba tỷ đồng). Cùng ngày hai bên đã ký hợp đồng đặt cọc số tiền bằng 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng) có sự chứng kiến của ông Nguyễn Quốc V, đôi bên thỏa thuận trong thời gian cọc 45 ngày (từ ngày 08/8/2022 đến ngày 25/9/2022) các bên sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng theo mẫu quy định. Khi ký hợp đồng xong thì bên ông T sẽ trả số tiền còn lại là 2.700.000.000đồng. Tại Hợp đồng đặt cọc bên ông N và bà Đ cam kết đất không phát sinh tranh chấp, không thừa kế gia đình, nếu vi phạm thì bên bà Đ và ông N phải trả cọc và bồi thường tiền cọc bằng số tiền đặt cọc và phải hủy hợp đồng đặt cọc. Sau khi nhận tiền cọc thì ông T, ông N, bà Đ thống nhất cho ông T thuê người chặt cây và san lắp mặt bằng. Chi phí thuê nhân công là do ông T trả, phần cây dầu sẽ cho ông Nguyễn Quốc V làm ván để xây cất nhà thờ Hòa Lạc A, do ông V là người giới thiệu cho hai bên chuyển nhượng nên các bên thống nhất cho ông V để cám ơn sự giới thiệu của ông V trên cơ sở tự nguyện. Sau khi thống nhất thì ông T thuê ông Thạch Phí B cắt cây lấy nhánh, còn thân cây giao cho ông V. Ông T thuê ông Huỳnh Văn Mộng X dùng xe cuốc sang lắp mặt bằng của thửa đất với chi phí là 30.000.000đồng. Việc cắt cây, san lắp mặt bằng diễn ra công khai không có ai ngăn cản. Gần đến thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng thì các hộ dân ở phía trong của thửa đất 460 nộp đơn khởi kiện tranh chấp với bà Đ và ông N, họ cho rằng từ trước năm 1975 đến nay họ có sử dụng 01 phần đất của thửa 460 làm lối đi chung và là lối đi duy nhất sử dụng để đi ra lộ công cộng. Biết được thông tin thửa đất có tranh chấp, nên ông T đã liên hệ bà Đ, ông N là không thể ký hợp đồng vì đất của bà Đ đang tranh chấp. Ông N, bà Đ đã vi phạm thỏa thuận đặt cọc nên ông T có yêu cầu ông N, bà Đ trả cọc nhưng ông N, bà Đ không đồng ý. Từ đó, ông T khởi kiện ông N, bà Đ yêu cầu Tòa án xem xét hủy hợp đồng đặt cọc, yêu cầu ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích Đ phải trả lại tiền nhận cọc là 300.000.000đồng và phải bồi thường cọc bằng 300.000.000 đồng, đồng thời phải hoàn trả số tiền san lắp bằng 30.000.000đồng đối với thửa đất 460.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Huỳnh Tuấn E đại diện cho ông Lý Văn T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và bồi thường tiền san lắp mặt bằng 30.000.000 đồng. Giữ nguyên các yêu cầu khác.

Đối với yêu cầu phản tố của ông N và bà Đ về việc yêu cầu ông T bồi thường tài sản trên đất là số cây bị cắt tổng giá trị bằng 300.000.000 đồng thì ông T không đồng ý. Nguyên nhân là do ông N, bà Đ biết trên thửa 460 nêu trên là có sử dụng một phần làm lối đi nhưng không trao đổi với ông T là do lỗi của bên bà Đ.

Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 09/05/2023 của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N (BL30) và trong quá trình giải quyết vụ án có lời trình bày và yêu cầu như sau:

Ông T là người trực tiếp điện thoại cho bà Đ để hỏi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 460 tờ bản đồ số 8, diện tích 2.290m² tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh của bà chứ không có thông qua người khác môi giới. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 3.000.000.000đồng. Ông T có đặt cọc là 300.000.000 đồng vào ngày 08/8/2022 và có hẹn trong thời hạn 45 ngày từ ngày 08/8/2022 đến ngày 25/9/2022 thì hai bên phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hai bên có thỏa thuận là đất không phát sinh tranh chấp, nếu đất phát sinh tranh chấp thì không tiến hành chuyển nhượng và vợ chồng bà phải trả tiền cọc và chịu phạt cọc cho ông T. Hợp đồng đặt cọc này do ông T làm và hai vợ chồng bà ký tên vào hợp đồng. Đến ngày 25/9/2022 bà có yêu cầu ông T ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông T cho biết đang kẹt tiền nên bà thống nhất kéo dài thêm 01 tháng cho ông T. Sau đó ông T cho bà biết đất bị tranh chấp, bà có liên hệ với Ủy ban nhân dân xã Đ thì được biết đất của bà bị các hộ dân ở bên trong kiện xin mở lối đi. Tại phiên hòa giải bà đã thống nhất chịu hổ trợ số tiền bằng 75.000.000đồng để các hộ dân đi mua lối đi khác, không đi trên đất của bà nữa. Nhưng đến nay ông T không chịu ký hợp đồng với vợ chồng bà. Bà cũng đã có nói với ông T nếu ông T không ký hợp đồng thì bị mất cọc. Đến nay ông T cũng không ký hợp đồng với vợ chồng bà và ông T cũng có kêu bà chuyển nhượng cho người khác đi rồi trả cọc lại cho ông T, bà không đồng ý trả cọc thì ông T khởi kiện vợ chồng bà. Khi ông T tiến hành cắt cây, san lắp mặt bằng thì bà không biết, vì nhà bà ở xa thửa đất này.

Nay vợ chồng bà không đồng ý trả tiền cọc 300.000.000đồng và phạt tiền cọc theo yêu cầu của ông Lý Văn T, yêu cầu ông Lý Văn T phải tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp ông T không ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải bồi thường 25 cây dầu lớn (kích thước chiều rộng 03m, chiều cao 20m), 01 bụi tre (60 cây), 03 cây sao (kích thước chiều rộng 01m, chiều cao 15m), 10 cây Bứa (kích thước có chiều rộng 1m, chiều cao 15m), 02 cây Quăn (kích thước chiều rộng 03m, chiều cao 15m) tổng giá trị bằng 300.000.000 đồng cho vợ chồng bà.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:

Áp dụng khoản 3, 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 157, 165, 227, 228, 244, 273 và 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 328, 584 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn T.
  2. Buộc ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích Đ phải trả cho ông Lý Văn T số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) tiền đặt cọc.

  3. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn T về việc yêu cầu ông Đoàn Văn N, bà Nguyễn Thị Bích Đ phải trả tiền phạt cọc 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng).
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N về việc yêu cầu ông Lý Văn T phải tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc yêu cầu ông Lý Văn T phải bồi thường 25 cây dầu lớn (kích thước chiều rộng 03m, chiều cao 20m), 01 bụi tre (60 cây), 03 cây sao (kích thước chiều rộng 01m, chiều cao 15m), 10 cây Bứa (kích thước có chiều rộng 1m, chiều cao 15m), 02 cây Quăn (kích thước chiều rộng 03m, chiều cao 15m) tổng cộng là 272.800.000đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
  5. Buộc ông Lý Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N số tiền cây dầu bằng 27.200.000đồng (hai mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng.

  6. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn T về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc được lập giữa bà Nguyễn Thị Bích Đ, ông Đoàn Văn N với ông Lý T ngày 08/8/2022 và phần yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích Đ, ông Đoàn Văn N trả 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) tiền san lắp và sửa chữa thửa đất 460, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá và lệ phí yêu cầu cung cấp thông tin, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 23/07/2024, ông Lý Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc ông phải có trách nhiệm bồi thường số cây bị cưa bằng 27.200.000 đồng và buộc ông N và bà Đ phải bồi thường tiền cọc cho ông bằng 300.000.000 đồng;

Ngày 30/07/2024, bà Nguyễn Thị Bích Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng không buộc bà Đ phải hoàn trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng và yêu cầu ông Lý Văn T phải bồi thường tiền cây bị cưa bằng 44.200.000 đồng và giá trị gốc cây chưa được Toà án định giá.

Ngày 31/7/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh có Quyết định kháng nghị số: 119/QĐ-VKS-DS kháng nghị đối với bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa án sơ thẩm theo hướng không buộc ông Lý Văn T bồi thường tiền cây dầu là 27.200.000 đồng; đồng thời, buộc bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền bằng 14.320.000 đồng chứ không phải số tiền 13.456.000 đồng như án sơ thẩm tuyên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Đại diện cho nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp bổ sung thêm chứng cứ gì mới;

Đại diện cho bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ không rút đơn phản tố và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm 01 vi bằng lập ngày 09/10/2024. Trình bày tại cấp phúc thẩm, đại diện cho bị đơn yêu cầu Hội đồng phúc thẩm xem xét thêm về thiệt hại gốc cây, buộc ông Lý Văn T phải bồi thường thêm giá trị các gốc cây bị bứng bỏ, nhưng không xác định được giá trị bao nhiêu (do bị đơn không có yêu cầu giải quyết ở cấp sơ thẩm, nay ở cấp phúc thẩm yêu cầu bổ sung);

Các đương sự có mặt tại phiên toà không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án;

Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Xét thấy trong hợp đồng đặt cọc: đôi bên ký kết có thỏa thuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày đặt cọc (tức ngày 08/08/2022) và khi hết hạn thỏa thuận 45 ngày thì bà Đ có gia hạn cho ông T thêm 30 ngày nữa (tức đến hết ngày 25/10/2022) thì ông Lý Văn T phải thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo mẫu Nhà nước quy định. Tuy nhiên, mặc dù hết thời hạn được gia hạn và cho đến nay, bên ông Lý Văn T vẫn không thực hiện việc ký kết hợp đồng xem như ông T đã vi phạm hợp đồng nên ông T phải bị mất số tiền đặt cọc, bà Đ không có nghĩa vụ trả lại số tiền cọc đã nhận cho ông T;

Đối với cây trồng trên đất: Trong thời gian chờ thực hiện việc ký kết hợp đồng (tức chưa ký kết hợp đồng chính thức), ông T đã tự ý cho người đốn hạ toàn bộ cây trồng trên đất thửa 460 và san lắp mặt bằng không có ý kiến của bà Đ nên ông T phải chịu trách nhiệm bồi thường, xét trên thửa đất của bà Đ có tồn tại nhiều loại cây trồng cổ thụ lớn nhỏ, ông T cho rằng đã thỏa thuận với vợ chồng bà Đ về việc đốn hạ các cây và san lắp mặt bằng nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Nên việc bà Đ yêu cầu bồi thường số lượng cây bị đốn hạ bằng 44.200.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ.

Về vi phạm thủ tục tố tụng: Việc Tòa án cấp sơ thẩm ban hành nhiều quyết định đính chính sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm đã làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án.

Từ đó yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích Đ, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của bà Đ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C và kháng cáo của các đương sự:

+ Về kháng nghị: Đối với kháng nghị không buộc ông T bồi thường 27.200.000 đồng tiền cây trên đất bị đốn hạ cho bị đơn là có căn cứ. Bởi vì, căn cứ lời khai tại các bút lục 84, 142, 177 của ông V xác định cây trồng do bà Đ cho Nhà thờ, bà Đ cũng thừa nhận bán đất chứ không có bán cây, cây Dầu trồng trên đất cho Nhà thờ (BL 142, 139), trên thực tế người nhận cây là Nhà thờ H1, như vậy có đủ căn cứ xác định bà giữa ông T, ông V và bà Đ có sự thỏa thuận về cây trên đất, việc ông T đốn hạ các cây trên nhằm mục đích thực hiện thỏa thuận của các bên, bà Đ cũng không chứng minh được số cây trên ông T đã chiếm và sử dụng nên Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đối với phần này đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận;

Đối với kháng nghị về tiền án phí bà Đ phải chịu: Xét thấy, theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016 và điểm c mục 1.3 tiểu mục 1 phần II danh mục án phí kèm theo Nghị quyết số: 326/2016 thì số tiền án phí bà Đ phải chịu được tính trên số tiền 572.800.000 đồng như sau: 20 triệu + (172.000.000 đồng x 4%) = 13.456.000 đồng, còn kháng nghị đề nghị tính 5% trên tổng số tiền 572.800.000 đồng là không đúng với quy định của Nghị quyết nêu trên, nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện C về phần án phí là không có căn cứ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh xin rút kháng nghị đối với phần này. Tuy nhiên, trường hợp chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về việc không buộc ông T bồi thường số tiền 27.200.000 đồng thì đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tính lại án phí dân sự sơ thẩm bà Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

+ Về kháng cáo:

Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Văn T và bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ về tiền đặt cọc: Ông Lý Văn T yêu cầu bà Đ phải trả lại tiền cọc bằng 300.000.000 đồng và bồi thường tiền cọc bằng 300.000.000 đồng; còn bà Đ thì cho rằng ông T đã vi phạm hợp đồng nên phải chịu mất cọc. Xét thấy yêu cầu của các bên đều không có căn cứ. Vì tại biên nhận đặt cọc ngày 08/8/2022 ông T với ông N, bà Đ thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 460 cho ông T với số tiền 3.000.000.000 đồng; ông T đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng, thời gian thực hiện hợp đồng là 45 ngày tính từ ngày 08/8/2022 đến ngày 25/9/2022, ông N, bà Đ sẽ cùng ông T làm thủ tục công chứng chuyển nhượng, bị đơn cam kết đất không có tranh chấp, nếu quá thời hạn đặt cọc ai vi phạm thì bồi thường gấp 02 lần bằng 600.000.000 đồng, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm cả đại diện cho nguyên đơn và đại diện cho bị đơn đều thừa nhận có gia hạn thời gian ký kết hợp đồng thêm 01 tháng (tức hạn chót là ngày 25/10/2022). Như vậy đối chiếu với đơn các hộ dân gửi cho UBND xã Đ nhờ giải quyết mở lối đi là ngày 15/9/2022 nên có cơ sở xác định có phát sinh tranh chấp từ ngày 15/09/2022. Kết quả xác minh trên thực tế thì trên phần đất thuộc thửa 460 có hình thành 01 lối đi phục vụ cho khoảng 10 hộ dân ở bên trong và đây là lối đi duy nhất để đi ra lộ (BL 68-72; 83, 85-88). Bà Đ cũng thừa nhận 10 hộ dân ở bên trong thửa đất 460 hiện nay vẫn còn đi trên đất, còn ông Lý Văn T khi nhận chuyển nhượng đất cũng không quan sát, kiểm tra lại trên đất có lối đi hay không, do đó xác định các bên cùng có lỗi. Vì vậy, Bản án sơ thẩm buộc bị đơn trả lại số tiền cọc bằng 300.000.000 đồng mà không phải bồi thường tiền cọc là phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 120, 131 và Điều 328 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Đối với kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn về bồi thường cây trồng trên đất: Nguyên đơn không đồng ý bồi thường số tiền 27.200.000 đồng về cây trồng bị đốn hạ là có căn cứ như kháng nghị nêu trên, cho nên kháng cáo của bà Đ về việc ông T phải bồi thường thiệt hại bằng 44. 200.000 đồng (13m 3 gỗ dầu x 3.400.000đ/m³) là không có căn cứ. Riêng phần kháng cáo về yêu cầu bồi thường các gốc cây sau khi cưa lấy gỗ thì bị bứng gốc để san lắp mặt bằng của bà Đ là ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm nên không thể xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 289, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh theo kháng nghị của Viện kiểm sát và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Văn T, của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C là còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung vụ án, kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Đối với số tiền đặt cọc và phạt cọc:

Xét hợp đồng đặt cọc được lập giữa bà Nguyễn Thị Bích Đ, ông Đoàn Văn N với ông Lý Văn T được xác lập vào ngày 08/08/2022, với nội dung thể hiện ông Lý Văn T đặt cọc cho bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N số tiền 300.000.000đồng với mục đích đảm bảo cho ông Lý Văn T nhận chuyển nhượng diện tích 2.290m² thuộc thửa 460, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong điều khoảng giao kết thể hiện trong thời hạn 45 ngày (tức từ ngày 08/08/2022 đến ngày 25/9/2022) các bên sẽ tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng theo mẫu quy định, khi ký hợp đồng chuyển nhượng xong thì bên ông T sẽ trả thêm số tiền còn lại là 2.700.000.000đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm phía người đại diện cho ông Lý Văn T và phía người đại diện cho bà Nguyễn Thị Bích Đ đều thừa nhận trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bên bà Đ có cho ông T gia hạn thực hiện hợp đồng thêm 01 tháng (tức đến hết ngày 25/10/2022).

Tại mục cam kết chung (Điều 4 của hợp đồng đặt cọc) thể hiện bên bà Đ, ông N cam kết tài sản được chuyển nhượng không có tranh chấp với bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào (Bút lục số 03), nếu vi phạm thì bên bà Đ, ông N phải trả cọc và bồi thường tiền cọc bằng số tiền đặt cọc bằng 600.000.000 đồng và phải hủy hợp đồng đặt cọc; ngược lại hết thời hạn thỏa thuận 45 ngày mà bên mua không tiếp tục ký kết hợp đồng thì mất cọc.

Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến các bên không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và phải xử lý hậu quả của hợp đồng đặt cọc không phải do lỗi của các bên tham gia ký kết (tức bên mua vẫn giữ ý định mua và bên bán vẫn giữ ý định bán), các bên không có tranh chấp về diện tích đất, số tiền thỏa thuận chuyển nhượng, giấy tờ về chủ quyền sử dụng...v..v....mà do các hộ dân bên trong muốn có lối đi thuận tiện để đi ra lộ công cộng cần phải sử dụng 01 lối đi trên 01 phần của thửa 460 này. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, đây là lỗi khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của các bên (Phía người mua không xem xét kỹ lưỡng hiện trạng thửa đất trước khi giao kết hợp đồng, phía người bán cũng không cung cấp chính xác hiện trạng trên đất đang có lối đi của những hộ dân ở phía trong), dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 460 nêu trên không thể tiếp tục thực hiện. Từ đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phạt tiền cọc của ông Lý Văn T và buộc bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N chỉ phải trả lại tiền cọc cho ông Lý Văn T với số tiền 300.000.000 đồng là có căn cứ. Do đó kháng cáo của ông T về phạt cọc và kháng cáo của bà Đ về việc không trả lại tiền cọc là không có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do cây trên đất bị đốn hạ: Phía nguyên đơn cho rằng sau khi giao nhận tiền đặt cọc thì các bên có thoả thuận là bà Đ cho ông T nhận đất trước để thực hiện việc cải tạo san lắp mặt bằng và số cây trồng trên bà Đ thoả thuận cho ông Nguyễn Quốc V – Cha nhà thờ, nên ông đã thuê người đốn cây lấy gỗ và đã giao cho cha nhà thờ xong, ông không có sử dụng số cây trên nên không đồng ý bồi thường cây theo yêu cầu của bị đơn; phía bị đơn cho rằng khi thoả thuận chuyển nhượng thì bà có thống nhất chuyển nhượng đất chứ không có chuyển nhượng cây, bà thống nhất cây cho ông Nguyễn Quốc V – Cha nhà thờ, nhưng sau đó bà không biết việc ông T đốn cây của bà khi chưa thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và số cây cưa hạ có giá trị bằng 300.000.000 đồng nên buộc ông Lý Văn T phải có trách nhiệm bồi thường. Sau khi xem xét số lượng cây bị cưa hạ, đối chiếu lời khai của các bên (trong đó có lời khai của ông Nguyễn Quốc V ) thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định số lượng cây bị cưa hạ là 08m³ cây x 3.4000.000 đồng/m³ = 27.200.000 đồng, từ đó buộc phía nguyên đơn ông Lý Văn T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về cây với số tiền nêu trên.

Ông Lý Văn T kháng cáo cho rằng ông không có sử dụng số cây trên mà đã giao cho nhà thờ sử dụng theo sự thoả thuận của bà Đ nên ông không có trách nhiệm bồi thường và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C cũng có kháng nghị không buộc ông T phải bồi thường thiệt hại cây trồng bị đốn chặt với số tiền 27.200.000 đồng cho bà Đ; còn phía bà Đ thì cho rằng theo xác định của ông V thì số lượng cây bị đốn hạ giao cho Nhà thờ khoảng 13m³ nên kháng cáo buộc ông Lý Văn T phải bồi thường số tiền bằng bằng 44.200.000đồng (13m³ x 3.4000.000 đồng/m³ = 44.200.000đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của ông Lý Văn T không đồng ý bồi thường giá trị số cây bị đốn hạ và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện C về việc không buộc ông T phải bồi thường thiệt hại cây trồng bị đốn hạvới số tiền 27.200.000 đồng là có căn cứ. Bởi lẽ, bà Đ không chứng minh được ông Lý Văn T đã chiếm sử dụng số cây của bà. Cộng lại ông Nguyễn Quốc V – là cha nhà thờ Hòa Lạc C cũng thừa nhận ông có nhận gỗ trên do ông T cưa đốn mang lại giao cho Nhà thờ sử dụng để xây dựng Nhà thờ theo sự thỏa thuận của bên mua và bên bán. Do vậy kháng cáo của bà Đ về việc yêu cầu ông Lý Văn T phải bồi thường giá trị gỗ tương đương 13m³ bằng 44.200.000đồng là không có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Đối với kháng cáo của bà Đ về bồi thường giá trị các gốc cây sau khi đốn hạ bị ông T bứng để san lắp mặt bằng:

Xét thấy tại đơn phản tố cũng như trong quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Bích Đ cũng không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc bồi thường các gốc cây sau khi đốn hạ bị ông T bứng để san lắp mặt bằng có giá trị như thế nào và số tiền bồi thường bằng bao nhiêu, tại Bản án sơ thẩm cũng không giải quyết về khoản này nên việc bà Đ kháng cáo là ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có thẩm quyền xem xét theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát về phần án phí bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu: Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát xác định Bản án sơ thẩm buộc bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền bằng 13.456.000 đồng là đúng, còn kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị tính 5% trên tổng số tiền 572.800.000 đồng là không đúng nên đề nghị rút lại kháng nghị đối với phần này. Xét thấy việc rút 01 phần kháng nghị của Viện kiểm sát là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận đình chỉ xét xử đối với phần kháng nghị đã rút theo quy định tại Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, việc chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C và 01 phần kháng cáo của ông Lý Văn T về việc không buộc ông Lý Văn T phải có trách nhiệm bồi thường giá trị cây với số tiền 27.200.000 đồng, làm thay đổi số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà Đ và ông N phải chịu. Do đó, số tiền án phí bà Nguyễn Thị Bích Đ và ông Đoàn Văn N phải chịu được tính trên tổng số tiền bằng 600.000.000 đồng như sau:

Từ 6 triệu đến 400 triệu phải chịu án phí bằng 5% là 20.000.000 đồng; từ 400 triệu đến 800 triệu bằng 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400 triệu (tức 200 triệu x 4% = 8 triệu). Như vậy, số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà Đ và ông N phải chịu bằng 28.000.000 đồng. Do ông Đoàn Văn N là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí nên xem xét miễn cho ông N toàn bộ số tiền án phí phải chịu bằng 14.000.000 đồng, riêng bà Nguyễn Thị Bích Đ không thuộc trường hợp được miễn nên buộc phải chịu án phí bằng 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của ông Lý Văn T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận 01 phần về việc không bồi thường thiệt hại về số cây bị đốn hạ; kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Từ đó, xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích cho bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xét kháng cáo của ông Lý Văn T được chấp nhận 01 phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm, ông Lý Văn T được cấp sơ thẩm xét miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do là người cao tuổi, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét hoàn trả lại;

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích Đ không được chấp nhận, bà Đ không thuộc trường hợp được miễn án phí nên buộc phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009290 ngày 30/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh.

[6] Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 289, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, không bị sửa đổi bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 289, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử 01 phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C đối với kháng nghị về phần án phí dân sự sơ thẩm đã rút.

Chấp nhận 01 phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C và 01 phần kháng cáo của nguyên đơn ông Lý Văn T đối với yêu cầu không phải bồi thường thiệt hại do cây bị đốn với số tiền 27.200.000đồng cho bà Đ và ông N;

Không chấp nhận yên cầu kháng cáo của ông Lý Văn T về yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích Đ bồi thường tiền cọc.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích Đ về việc buộc ông Lý Văn T phải mất cọc và phải bồi thường giá trị cây bị đốn hạ bằng 44.200.000 đồng;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 92/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn T.
  2. Buộc bị đơn ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị Bích Đ phải trả lại số tiền nhận cọc cho ông Lý Văn T bằng 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu số tiền bằng 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng), nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Đ, ông N đã nộp tạm ứng là 14.000.000đồng theo biên lai thu số 0016577 ngày 09/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  5. Kháng cáo của ông Lý Văn T được chấp nhận 01 phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm, do ông Lý Văn T được xem xét miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên không xem xét hoàn trả;

    Buộc bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009290 ngày 30/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 211/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa Lý Văn T với Đoàn Văn Nh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger