Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 211/2024/DS-PT

Ngày: 19 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Các Thẩm phán:Ông Trần Văn Nhum
Ông Lê Viết Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2024/TLPT-DS ngày 02/10/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2024/QĐ-PT ngày 04/11/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1964. (có mặt)

Trú tại: Tổ C, Phạm Ngọc T, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Lê Trí V, sinh năm 1982. (có mặt)

Trú tại: Tổ C, Phạm Ngọc T, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Trí V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên bà Vũ Thị N trình bày:

Bà N đang quản lý, sử dụng diện tích đất đã được cấp giấy CNQSDĐ số 524 ngày 2/12/1998 thuộc thửa 165, tờ bản đồ số 19 đứng tên Vũ Thị N, diện tích 527m²; đất tọa lạc tại Tổ D, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, bà N đã sử dụng hơn 30 năm nay. Đến năm 2021 được đo vẽ cấp lại giấy CNQSD số DC 037971, số vào sổ cấp GCN(CS)014944/Tân Phú do UBND huyện Đ cấp ngày 09/8/2021 đứng tên bà Vũ Thị N, thuộc thửa 37, tờ bản đồ 59, có diện tích 636,1m² tọa lạc tại tổ D, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Ông V có đất giáp ranh đã xây tường rào bằng gạch lấn chiếm sang đất của bà N là 20,7m² theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ. Bà N đã làm đơn khiếu nại ra UBND thị trấn T và đã được hòa giải nhưng không thành. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông V trả lại diện tích đất lấn chiếm trái phép 20,7m² và phá bỏ hàng rào xây dựng bằng gạch trái phép để trả lại đất cho bà N. Ngoài ra không yêu cầu gì nữa cả.

Bị đơn ông Lê Trí V trình bày:

Ông V đang quản lý sử dụng diện tích đất theo Giấy CNQSDĐ số CS 620807, số vào sổ cấp Giấy CNQSĐ số 10266/Tân Phú do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 26/12/2019 đứng tên ông Lê Trí V, diện tích là 19.553,5m² nên ông V không đồng ý với ý kiến của bà N, lý do diện tích đất của bà N đang quản lý là 636,1m² so với giấy CNQSĐ cũ là 527m², tăng 109,1m² là không đúng với thực tế, do đó bà N cho rằng ông V xây lấn đất của bà N là không đúng. Ông V không đồng ý với giá đất trong biên bản định giá do Hội đồng định giá tài sản định giá ngày 08/12/2023, ông V cũng không yêu cầu cơ quan nào định giá lại. Ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N, yêu cầu Tòa án bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà N. Ngoài ra ông V không yêu cầu gì nữa cả.

Người làm chứng ông Vũ Tiến Đ trình bày:

Ông Đ là con bà N, ông có biết ông V xây dựng hàng rào lấn chiếm đất của bà N, ông Đ có nói với ông V lấn chiếm nhưng ông V không đồng ý, bà N cũng đã yêu cầu UBND thị trấn T hòa giải nhưng không thành. Nay đất của bà N, ông Đ yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho bà N. Ngoài ra ông Đ không có ý kiến yêu cầu gì về quyền lợi của mình và xin vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú đã quyết định:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị N.

1.1. Buộc bị đơn ông Lê Trí V phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 20,7m²; đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 31 dài 0,93m + 0,79m; phía Tây giáp thửa 38 dài 01m; phía Nam giáp thửa 52 dài 15,21m và phía Bắc giáp thửa 27 dài 15,21m.

(Có sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ kèm theo).

2. Buộc bị đơn ông Lê Trí V phải tháo bỏ hàng rào xây dựng bằng gạch trái phép có diện tích 30,42m² để trả lại diện tích đất cho bà N.

(Có biên bản xem xét, thẩm định tài sản ngày 24/11/2023 của TAND huyện kèm theo).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 10/6/2024, bị đơn ông Lê Trí V nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Trí V làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 20,7m², vị trí đất được xác định theo mảnh trích đo số 05, tờ bản đồ số 59 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ngày 14/8/2023 được cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu số 524 ngày 02/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ bà Vũ Thị N có diện tích 527m² đến năm 2021 bà N được cấp lại Giấy GCNQSDĐ số DC037971, số vào sổ cấp giấy CN(CS) 014944/Tân Phú này 09//2021, diện tích 636,1m².

[3] Xét quá trình quản lý, sử dụng diện tích đất của bà N: Bà N quản lý sử dụng đất ổn định từ năm 1998 được cấp Giấy CNQSDĐ ngày 02/12/1998. Quá trình sử dụng đất bà N đã xây nhà cấp 4 và các công trình phụ, xung quanh đất có vây hàng rào lưới B40 và cột bê tông. Năm 2018 bà N đã phá bỏ căn nhà và đổ đất trên toàn bộ diện tích đất để đôn cao so với mặt đường, riêng phía sau vẫn còn 2 cột bê tông ở 2 đầu giáp ranh đất ông V.

[4] Phần đất của ông Lê Trí V có nguồn gốc là của ông Lê Đức R được cấp GCNQSDĐ số S 311935 số vào sổ cấp CGN số 01197 QSDÐ/9338/QĐ-UB(H) do UBND huyện Đ cấp ngày 11/9/2001 đến năm 2019 ông R tặng cho con là Lê Trí V diện tích 19.533,5m²; Ông V được cấp Giấy CNQSDĐ số CS 620807, số vào sổ cấp GCN: 10266/Tân Phú do Sở TN&MT tỉnh B cấp, diện tích 19.553,5m².

[5] Nguyên đơn bà N cho rằng diện tích 20,7m² đất của bà N bị ông V xây hàng rào lấn sang. Do vậy, bà N yêu cầu ông V gỡ bỏ hàng rào và trả lại diện tích 20,7m² đất cho bà N.

[6] Bị đơn ông V cho rằng phần diện tích đất 19.553,5m² do ông quản lý sử dụng đúng theo GCNQSĐ cấp cho ông. Hơn nữa, hiện nay bà N đang quản lý diện tích là 636,1m² so với giấy CNQSĐ cũ của bà N là 527m², tăng 109,1m² là không đúng với thực tế và ông V cho rằng người giáp ranh ký là không đúng, ông không biết việc đo đạc ký giáp ranh đất của bà N. Do đó, ông V cho rằng ông không xây lấn đất của bà N nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N.

[7] Hội đồng xét xử, xét thấy: Diện tích đất của bà N được cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu số N077365 của Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/12/1998 cấp cho hộ bà Vũ Thị N có diện tích 527m² đến năm 2021 bà N được cấp lại Giấy GCNQSDĐ số DC037971, số vào sổ cấp giấy CN(CS) 014944/Tân Phú do UBND huyện Đ cấp này 09/8/2021, có diện tích 636,1m² tăng 109,1 m² so với giấy CNQSÐ trước đây. Căn cứ Công văn số 263/VPĐKĐDĐ-ĐK&CGCN ngày 29/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (bút lục số 164-166) khẳng định việc tăng diện tích của bà N là do các bên thống nhất lại ranh và công nhận thêm diện tích hành lang bảo vệ đường bộ (HLBVĐB) và do năm 2009 HLBVĐB qua khu vực thị trấn T giảm từ 30m xuống còn 15m và Tại Công văn số 341/CV-CNVPĐKĐDĐ-ĐP này 03/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ (bút lục số 170) đối chiếu với sơ đồ đo đạc cũng thể hiện hàng rào ông V xây dựng không đúng tọa độ ranh giới diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây lấn chiếm qua đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà N 20,7m². Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà bà N buộc ông V phải đập bỏ hàng rào xây dựng bằng gạch có diện tích 30,42m² và trả lại diện tích đất lấn chiếm cho bà N 20,7m² là có căn cứ và đúng pháp luật.

[8] Bị đơn ông V kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông V không được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.

[9] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông V phải chịu án phí theo quy định.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Trí V;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 158, 166; 235 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 12, 166 và 203 Luật đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị N.

Buộc bị đơn ông Lê Trí V phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 20,7m²; đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 31 dài 0,93m + 0,79m; phía Tây giáp thửa 38 dài 01m; phía Nam giáp thửa 52 dài 15,21m và phía Bắc giáp thửa 27 dài 15,21m.

(Có sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ kèm theo).

2. Buộc bị đơn ông Lê Trí V phải tháo bỏ hàng rào xây dựng bằng gạch trái phép có diện tích 30,42m² để trả lại diện tích đất cho bà N.

(Có biên bản xem xét, thẩm định tài sản ngày 24/11/2023 của TAND huyện kèm theo).

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

3. Chi phí tố tụng: Buộc ông V phải trả lại cho bà N 4.141.000 đồng chi phí đo đạc và 3.600.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Tổng cộng là 8.741.000 đồng.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Lê Trí V phải nộp 12.212.407 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bà Vũ Thị N không phải nộp án phí, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng phú, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019276 ngày 03 tháng 4 năm 2023.

5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Lê Trí V phải chịu số tiền 300.000 đồng được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010365 ngày 18/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Tòa án ND huyện Đồng Phú;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - Chi Cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn thư, TỔ HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Nguyễn Văn Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 211/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Nh kiện Lê Trí V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger