TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2024/DS-PT
Ngày 16/9/2024
V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lữ Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2024/TLPT- DS, ngày 05 tháng 8 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2024/DS-ST, ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 255/2024/QĐ-PT, ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa:
1.Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Lê Tấn Ph, sinh năm 1976. Địa chỉ: đường H, khóm M, thị trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ( theo văn bản ủy quyền ngày 19/10/2023) ( có mặt ).
2.Bị đơn:
2.1.Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1961 ( có mặt)
2.2.Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962 ( vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã C, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của các bị đơn là anh Phan Thanh L, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 13/9/2024) ( có mặt).
Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn Th là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của bà Th trình bày:
Vào ngày 01/3/2013 bà Nguyễn Thị Ngọc Th có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị D mượn 83,5 chỉ vàng 24k, theo thỏa thuận khi nào bà Th có nhu cầu sử dụng thì vợ chồng ông Th phải trả đủ vàng đã vay, do bà Th và ông Th là anh em ruột nên không có làm biên nhận.
Đến ngày 04/7/2021 ông Th, bà D có trả cho bà Th 24 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 59,5 chỉ vàng 24k, bà Nguyễn Thị D đại diện ký tên vào biên nhận còn nợ bà Th 59,5 chỉ vàng 24K. Đầu năm 2023 bà Th cần vốn làm ăn nên đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông Th trả nợ, nhưng vợ chồng ông Th dùng lời lẽ thô tục chửi bà Th, thậm chí còn lấy dao đe dọa đòi chém bà Th nên bà Th làm đơn yêu cầu Ban nhân dân ấp T hòa giải. Vào ngày 20/9/2023 tổ hòa giải ấp T tiến hành hòa giải, nhưng không thành, vì bà D hứa trả lần từng chỉ cho đến khi đủ số vàng trên, nhưng không hứa thời gian nào sẽ trả và ông Th trình bày: số vàng trên là vốn và tiền lãi nên ông chỉ đồng ý trả cho bà Th một lượng bảy vàng 24K. Do ông Th và bà D đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Th nên bà Th khởi kiện yêu cầu ông Th và bà D có trách nhiệm liên đới trả cho bà Th 59,5 chỉ vàng 24k.
- Tại bản khai ý kiến ngày 15/12/2023 của ông Nguyễn Văn Th, bà Nguyễn Thị D và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của ông Th trình bày:
Vào năm 2013, vợ chồng ông Th có vay của bà Th 17 chỉ vàng 24k, bà Th tính lãi hàng tháng đến khi trả xong, mức lãi tính bao nhiêu do thời gian quá lâu nên các bị đơn không nhớ. Việc vay vàng không lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Đến năm 2022 thì vợ chồng ông Th đã trả cho bà Th cả gốc và lãi tổng cộng 24 chỉ vàng 24K nên bà D và ông Th không còn nợ bà Th. Bà Th kiện vợ chồng ông Th cho rằng nợ đến 83,5 chỉ vàng 24K là không đúng sự thật, bởi vì vợ chồng ông Th không có nhu cầu vay số vàng nhiều như vậy, hơn nữa thời điểm năm 2013 bà Th cũng không có khả năng có hơn 80 chỉ vàng để cho vay. Đối với giấy nợ ghi ngày 04/7/2023 (có dấu hiệu sửa lại năm 2021), vợ chồng ông Th không nhận số vàng theo giấy nhận nợ này. Giấy nợ chỉ là con số do bà Th tự tính lãi, lời như thế nào đó trong số vàng 17 chỉ mà ông Th vay trước đây. Do bà D không hiểu và lúc đó quá thương em ruột của chồng (bà Th em ruột ông Th và bị bệnh thần kinh) nên bà D đã ký giấy nợ để bà Th yên lòng, không phát sinh bệnh nặng hơn. Nay vợ, chồng ông Th không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đã trả xong nợ cho bà Th.
Tại ngày hòa giải 30/9/2023 của ấp T vợ chồng ông Th không có đọc lại nội dung và cũng không được nghe tổ hòa giải đọc lại nội dung. Trong nội dung biên bản hòa giải của ấp T thì vợ chồng ông Th trình bày là đã trả nợ xong cho bà Th, không còn nợ khoản nào nữa.
- Bà Nguyễn Thị D có người đại diện hợp pháp là anh Phan Thanh L trình bày: thống nhất ý kiến của ông Th và không có ý kiến gì khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 73/2024/DS-ST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th.
Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị Ngọc Th số nợ vay gốc còn lại là 59,5 (năm mươi chín phẩy năm) chỉ vàng 24k.
Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Trong hạn luật định, bị đơn ông Nguyễn Văn Th kháng cáo, không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì vợ chồng ông đã trả xong nợ cho bà Th.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Phan Thanh L là người đại diện hợp pháp của ông Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông Th không đồng ý trả vàng theo yêu cầu của nguyên đơn, vì các bị đơn không có vay 59,5 chỉ vàng 24K của nguyên đơn.
Anh Lê Tấn Ph là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của ông Th, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Th.
Giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: ông Th phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng ông Th là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí nên miễn toàn bộ án phí cho ông Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Th còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Th, xét thấy:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ liên đới trả bà Th 59,5 chỉ vàng 24k, tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là biên nhận đề ngày 4/7/2003 ( số 3 sửa thành số 1), theo nội dung biên nhận thể hiện Nguyễn Thị D có hỏi cô năm Th1 vàng năm cây chín năm phân, có chữ ký và họ tên Nguyễn Thị D.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Phan Thanh L là người đại diện hợp pháp của các bị đơn trình bày, vào năm 2013 các bị đơn có vay của nguyên đơn 17 chỉ vàng 24K, đến năm 2021 đã trả xong 17 chỉ vàng vốn và 07 chỉ vàng lãi và trả thêm 10.000.000đ tiền mặt, nhưng việc vay và trả này đều không làm biên nhận. Anh L thừa nhận biên nhận ngày 4/7/2023 là do bị đơn bà Nguyễn Thị D viết toàn bộ nội dung và ký tên, ngoài lời trình bày thì ông Th không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà D bị bà Th ép buộc viết biên nhận cũng như việc ông Th trình bày đã trả đủ số vàng vay mượn của bà Th, phía bà Th không thừa nhận. Xét thấy tại biên bản hòa giải ngày 30/9/2023 của tổ hòa giải ấp T, xã C, huyện Vũng Liêm thì bà D đồng ý trả bà Th số vàng 59,5 chỉ vàng 24K, nhưng xin trả dần từng chỉ cho đến khi đủ số vàng, ông Th thì đồng ý trả cho bà Th 17 chỉ vàng 24K. Tại phiên tòa phúc thẩm anh L thừa nhận nội dung biên bản hòa giải ngày 30/9/2023 do bà D và ông Th trình bày, ông Th, bà D có ký tên vào biên bản. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại địa phương thì tổ trưởng tổ hòa giải ấp T xác nhận tất cả nội dung thể hiện trong biên bản hòa giải ngày 06/5/2024 là đúng sự thật và đã đọc cho các đương sự nghe và đồng ý ký tên vào biên bản hòa giải.
Như vậy có căn cứ xác định ông Th, bà D có nợ bà Th 59,5 chỉ vàng 24K chưa thanh toán. Do đó án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị Ngọc Th số nợ vay 59,5 chỉ vàng 24k là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Th không xuất trình được chứng cứ nào mới do đó không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Th, giữ nguyên án sơ thẩm. Buộc ông Th và bà D có nghĩa vụ liên đới trả bà Th 59,5 chỉ vàng 24K.
[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Thật là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 8.226.000đ là thiếu sót nên sửa án sơ thẩm về nội dung này.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên hoàn trả nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Hoàn trả bà Nguyễn Thị Ngọc Th tiền tạm ứng án phí 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0008503 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: ông Th phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng ông Th là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí nên miễn toàn bộ án phí cho ông Th theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Th;
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2024/DS-ST, ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long về phần án phí.
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 288, Điều 463, Điều 465, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Th.
Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị Ngọc Th số vàng còn nợ là 59,5 chỉ (năm mươi chín chỉ năm phân) vàng 24k.
- Về án phí:
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc Th tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.226.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0008503 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn Th không phải chịu án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ánh Bình |
Bản án số 211/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 211/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Th yêu cầu ông Th và bà D trả tiền lãi và tiền gốc
