TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bấm; Nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ quận Ngô Quyền.
Bà Lý Thị Thiên Nga; Nghề nghiệp: Nguyên Bí thư đoàn phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 495/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và thông báo thời gian, địa điểm mở phiên toà số 541/2024/TB-TA ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn C, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B đường N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Trần Thị H1 và 02 con; tiền án: Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 149/QĐ-XPHC ngày 17/11/2023 của Công an quận N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa được xóa); nhân thân: Bản án sơ thẩm số 109/2007/HS-ST ngày 28/6/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Bản án phúc thẩm số 851/2007/HSPT ngày 27/9/2007 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội giữ nguyên bản án sơ thẩm xử phạt Vũ Văn C 03 năm tù về tội Vận chuyển hàng cấm(đã được xóa án tích); bị tạm giữ Tạm giữ ngày 16/4/2024, đến ngày 23/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Cháu Đặng Tất T, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2006, nơi cư trú: Số C đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Đặng Tất T : Anh Đặng Đức H2, sinh năm 1981 (là bố đẻ) ; nơi cư trú: Số C đường M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Lê Quang T1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số E phố C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Khải H3, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số F đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Chị Đặng Thị Bích N1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn B D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 17/12/2023, Vũ Văn C điều khiển xe mô tô Yamaha BKS 16R5-9238 đi theo hướng từ đường L rẽ vào đường P. Khi đi qua cửa hàng X tại số B P, M, Ngô Q, Hải Phòng, C nhìn thấy 01 điện thoại của anh Đặng Tất T (sinh năm 2006, trú tại số C Miếu H, D, L, Hải Phòng) để ở hốc bên trái của xe máy điện BKS 15MĐ1-401.69 dựng tại khu vực vỉa hè trước cửa hàng không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Chính dừng lại, dựng xe mô tô ở lòng đường cách vị trí xe mô tô điện khoảng 03 mét rồi quan sát xung quanh. Thấy không có ai để ý, C tiến sát lại xe mô tô điện, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại, cất giấu vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Một lúc sau, anh T ra ngoài lấy xe thì phát hiện bị mất điện thoại nên đã đến Công an phường M trình báo. Chị Hoàng Nguyễn Thu H4 (sinh năm 2001, nhân viên cửa hàng X) đã giao nộp 01 USB chứa video clip ghi nhận hình ảnh trộm cắp tài sản cho Cơ quan điều tra.
Sau khi trộm cắp được điện thoại, C về nhà, bỏ điện thoại ra xem thì biết đó là điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh và có mật khẩu. Chính thử mở nhiều lần nhưng không được nên đã tắt nguồn điện thoại. Sáng ngày 18/12/2023, C mở nguồn điện thoại thấy màn hình hiện tin nhắn với nội dung Iphone này bị mất hoặc thất lạc, xin hãy liên hệ với số điện thoại 0865.762.xxx (là số điện thoại của anh Đặng Đức H2, sinh năm 1981, bố của T). Sau đó, C mượn điện thoại của một người đàn ông đi đường không quen biết gọi cho anh H2 yêu cầu cung cấp mật khẩu nhưng anh H2 không đồng ý. Đến chiều ngày 20/12/2023, C mang điện thoại trên đến cửa hàng của anh Lê Quang T1 (sinh năm 1984) tại số E C, G, Ngô Q, Hải Phòng để bán. Anh T1 hỏi nguồn gốc chiếc điện thoại thì C nói điện thoại này là do C nhặt được, cam kết nếu xảy ra vấn đề gì thì sẽ tự chịu trách nhiệm nên anh T1 đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Số tiền này C đã tiêu xài hết.
Sau khi mua điện thoại, anh T1 làm theo hướng dẫn trên mạng thì mở được mật khẩu điện thoại. Ngày 21/12/2023, anh T1 đăng bán điện thoại trên trang “Chợ tốt Hải Phòng”. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh T1 đã bán chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Khải H3 (sinh năm 1979; Nơi ở: Số F Đà Nẵng, Cầu T, N, Hải Phòng) tại khu vực gầm cầu vượt Lạch Tray, N, Hải Phòng. Khi mua bán, anh T1 nhận là máy của mình; anh H3 kiểm tra điện thoại thấy máy mới, không có mật khẩu và icloud đăng nhập nên đã đồng ý mua với giá 11.000.000 đồng.
Ngày 22/12/2023, anh H3 đã bán chiếc điện thoại trên cho chị Đặng Thị Bích N1 (sinh năm 1974; Nơi ở: Thôn B, D, T, A, Hải Phòng) với giá 12.000.000 đồng thông qua giới thiệu của chị Nguyễn Thị P (chị gái anh H3 và là đồng nghiệp với chị N1, sinh năm 1977; Nơi ở: Số A Đà Nẵng, Cầu T, N, Hải Phòng). Ngày 02/4/2024, sau khi được thông báo cho biết chiếc điện thoại nêu trên là tài sản trộm cắp, chị N1 đã giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 pro max, màu xanh, dung lượng 128 GB, Imei 357677124702543 cho Cơ quan điều tra.
Ngày 16/4/2024, do nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên C đã đến Công an quận N đầu thú giao nộp 01 áo khoác màu đen có mũ nhãn hiệu UEG, 01 quần bò dài màu xanh (là quần áo Chính mặc khi trộm cắp tài sản) và 01 xe mô tô YAMAHA BKS 16R5-9238. Ngày 21/4/2024, anh T1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 11.000.000 đồng (là tiền anh T1 bán điện thoại cho anh H3).
Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND quận N kết luận: “Điện thoại Iphone 12 promax, 128GB, màu xanh, đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 13.225.000 đồng”.
Kết luận giám định số 1320/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, mang BKS: 16R5-9238, có số khung và số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.
Kết luận giám định số 1307/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “02 (hai) tập tin video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 33MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 8GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh”.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại Iphone 12 pro max, màu xanh, dung lượng 128 GB, I; xác định anh Đặng Tất T là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho anh T;
- - 01 xe mô tô hai bánh màu đỏ đen, nhãn hiệu: YAMAHA mang BKS: 16R5-9238, tên chủ xe là Hoàng Văn Đ (sinh năm 1955; Nơi ở: Số C L, Cầu Đ, N, Hải Phòng). Năm 2010, anh Đ mua mới tại cửa hàng xe; đến tháng 04/2023 thì bán lại cho anh Nguyễn Minh K (sinh năm 1990; Nơi ở: Số F L, Đ, N, Hải Phòng). Sau đó, anh K bán lại cho anh Nguyễn Hữu C1 (sinh năm 1988; Nơi ở: Số C N, G, N, Hải Phòng). Anh C1 cho C là anh họ của Công mượn đi làm, không biết về việc C dùng xe đi trộm cắp tài sản. Xác định anh C1 là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho anh C1;
- - Số tiền 11.000.000 đồng mà anh T1 giao nộp là do anh T1 bán điện thoại Iphone 12 pro max cho anh H3 vào ngày 21/12/2023 mà có; anh T1 không có yêu cầu gì; anh H3 có yêu cầu nhận lại số tiền trên; xác định giao dịch giữa anh T1 và anh H3 là ngay tình nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại số tiền 11.000.000 đồng cho anh H3;
- - 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 USB chứa video clip ghi nhận hình ảnh trộm cắp tài sản chuyển kèm hồ sơ vụ án;
- - 01 áo khoác màu đen có mũ nhãn hiệu UEG và 01 quần bò dài màu xanh là trang phục Chính mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu T đã nhận lại tài sản, anh H3 đã nhận được tiền và đều không có yêu cầu bồi thường. Anh T1 không có yêu cầu bồi thường do anh thấy nhà bị cáo C khó khăn. Anh H3 đã bồi thường chị N1 01 chiếc điện thoại khác nên chị N1 không có yêu cầu bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 184/CT-VKS ngày 16/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bị hại cháu Đặng Tất T và người đại diện hợp pháp anh Đặng Đức H5 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn C mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 áo khoác màu đen có mũ nhãn hiệu UEG và 01 quần bò dài màu xanh là trang phục Chính mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, C không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/12/2023, tại số B đường P, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng, Vũ Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh đã qua sử dụng của anh Đặng Tất T. Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND quận N kết luận: Điện thoại Iphone 12 promax, 128GB, màu xanh, đã qua sử dụng, đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 13.225.000 đồng. Hành vi của bị cáo Vũ Văn C đã đủ yếu tố cầu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Vũ Văn C về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
[6] Nhân thân bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa được xoá và 01 tiền án về tội Vận chuyển hàng cấm đã được xoá, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh T đã nhận lại tài sản, anh H3 đã nhận được tiền và đều không có yêu cầu bồi thường. Anh T1 không có yêu cầu bồi thường do anh thấy nhà bị cáo C khó khăn. Anh H3 đã bồi thường chị N1 01 chiếc điện thoại khác nên chị N1 không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
[9] Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác màu đen có mũ nhãn hiệu UEG và 01 quần bò dài màu xanh không còn giá trị sử dụng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí:
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Đối với hành vi của Lê Quang T1, Nguyễn Khải H3 và Đặng Thị Bích N1 khi mua chiếc điện thoại trên đều không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên chưa có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2024.
-Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác màu đen có mũ nhãn hiệu UEG và 01 quần bò dài màu xanh đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/7/2024)
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Vũ Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vu Van C - trom cap
