TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày: 29-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 và 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1971, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Trần Thị H1 (đã chết); bị cáo có chồng tên Trương Trọng K, sinh năm 1977; bị cáo có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024 bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Trần Thị Tuyết N1, sinh năm 1985, tại thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú tại: A đường D khu phố B, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T, sinh năm 1961 và bà Từ Kim K1,
sinh năm 1961; bị cáo có chồng tên Ngô Nguyễn Hoàng S (đã chết); bị cáo có 03 con (lớn nhất năm 2007, nhỏ nhất năm 2019); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 02/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thị N2, sinh năm 1984, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm: Không rõ; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; bị cáo có 04 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 02/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Anh T2, sinh năm 1997, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; bị cáo không có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 02/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thanh Minh H2, sinh năm 1986, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1956; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị N5, sinh năm 1988; bị cáo có 02 con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014);
Tiền án: Ngày 18/10/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” đối với hành vi thực hiện ngày 25/12/2020. Bị cáo chưa chấp hành xong tiền phạt 35.000.000 đồng và án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1947 và bà Lê Thị N6, sinh năm 1954; bị cáo có chồng tên Huỳnh Văn H3, sinh năm 1974; bị cáo có 02 người con (lớn nhất sinh năm
2006, nhỏ nhất sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 02/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1998, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị S1, sinh năm 1977; bị cáo có chồng tên Lê Chí H5, sinh năm 1997; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 19/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thị H6, sinh năm 1984, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú tại: Ấp M, phường M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N7, sinh năm: Không rõ và bà Lê Thị T4, sinh năm: không rõ; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; bị cáo có 02 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 02/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Lê Chí H5, sinh năm 1997, tại tỉnh Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. tạm trú: Ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn N8, sinh năm 1978 và bà Đặng Thị N9, sinh năm 1976; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim H4, sinh năm 1998; bị cáo chưa con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 11/01/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thực hiện ngày 24/12/2018. Bị cáo chấp hành xong ngày 23/9/2019. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 19/4/2024, bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Nguyễn Thị Kim N10, sinh năm 1987, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H7, sinh năm: không rõ và bà Lê Thị Kim S2 (đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn H8, sinh năm 1984; bị cáo có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày
23/3/2024 đến ngày 02/4/2024 bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Văn N8, sinh năm 1978; HKTT: Ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim H9, sinh năm 2006; HKTT: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị Kim H4, Lê Chí H5, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim N10, Trần Thị Tuyết N1 có quan hệ quen biết nhau.
Khoảng 11 giờ ngày 23/3/2024, bị cáo Trần Thị Tuyết N1 đến căn chòi tạm của bị cáo Nguyễn Thị N thuộc ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương) chơi. Tại đây, bị cáo Trần Thị Tuyết N1 hỏi xin Nguyễn Thị N cho đánh bài thắng thua bằng tiền sẽ cho tiền xâu thì Nguyễn Thị N đồng ý. Sau đó, bị cáo Trần Thị Tuyết N1 gọi điện thoại rủ Nguyễn Anh T2 đến chỗ bị cáo Nguyễn Thị N đánh bài “Binh Ấn Độ” thắng thua bằng tiền thì bị cáo T2 đồng ý. Lúc này, bị cáo T2 đang ngồi cạnh các bị cáo Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thanh Minh H2 và Lê Chí H5 nên rủ đi đánh bài thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, các bị cáo Trần Thị Tuyết N1, T2, H4, H2 và H5 đến căn chòi tạm của bị cáo Nguyễn Thị N. Tại đây, bị cáo Nguyễn Thị N lấy 01 tấm vải nhung màu xám trải xuống nền và lấy 01 bộ bài tây loại 52 lá của bị cáo Nguyễn Thị N mua sẵn trước đó đưa cho bị cáo T2 làm cái chia bài cho các bị cáo Tuyết N1, H4, H5 chơi; còn bị cáo H2 chưa tham gia chơi mà chỉ nằm trên võng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Thị N2 ở nhà gần chòi tạm của bị cáo Nguyễn Thị N thấy có đánh bài thì gọi điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Thị T3 đến chòi tạm của bị cáo Nguyễn Thị N đánh bài thì bị cáo T3 đồng ý. Lúc này, các bị cáo Nguyễn Thị H6 và Nguyễn Thị Kim N10 đang ở nhà bị cáo T3 biết bị cáo T3 đi đánh bài thì đi theo. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, các bị cáo N2, T3, H6 và N10 đến chòi tạm của Nguyễn Thị N thì cùng vào tham gia đặt tiền. Lúc này, bị cáo H2 vào làm cái thay bị cáo T2 được 01 ván thì bị cáo N2 làm cái thay bị cáo H2.
Cách thức chơi bài “Binh Ấn Độ” thắng thua bằng tiền của cả nhóm như sau: Mỗi ván bài mỗi người đặt cược từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng. Người làm cái sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho mỗi người chơi 06 lá bài, người chơi phân chia thành 02 vế bài, mỗi vế 03 lá bài được sắp xếp theo thứ tự lớn nhất là 03 tây, 09 điểm và nhỏ nhất là 0 điểm, thắng thua theo tỷ lệ 1-1.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố)Bến Cát đến kiểm tra phát hiện các bị cáo Tuyết N1, T2, H4, H2, H5, N2, T3, H6, N10 đang đánh bài “Binh Ấn Độ” thắng thua bằng tiền nên bắt giữ quả tang cùng tang vật gồm:
- Tiền trên chiếu bạc: 5.800.000 đồng;
- Tiền thu trên người các bị cáo 8.080.000 đồng, trong đó: Bị cáo Nguyễn Thanh M1 Hà 2.750.000 đồng, bị cáo Nguyễn Anh T2 1.050.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị H6 250.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị T3 3.700.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị N 330.000 đồng.
- 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây 52 lá chưa sử dụng;
- 01 tấm vải nhung, màu xám, kích thước 1,4m x 1,4m;
- 01 điện thoại di động hiệu Itel, gắn sim số 0388.179.xxx của bị cáo Nguyễn Thị T3;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen, gắn sim số 0968383746 của bị cáo Nguyễn Thị N2;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đen, gắn sim số 0348595427 và 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 68G1-886.09, số máy: JM51E1727911, số khung: MH1JM511XLK725203 của bị cáo Lê Chí H5;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 68G2-064.63, số máy: JK03E0203844, số khung: RLHJK0331NY003809 của bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13, gắn sim số 0363036072 của bị cáo Trần Thị Tuyết N1;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, gắn sim số 0326638389 của bị cáo Nguyễn Anh T2;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 màu đen, gắn sim số 0877193273 của bị cáo Nguyễn Thị Kim H4;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, gắn sim số 0705044757 của bị cáo Nguyễn Thị N.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị H6, Lê Chí H5, Nguyễn Thị Kim N10 khai nhận như sau:
- Bị cáo Nguyễn Thị N khai: Bị cáo N cho mượn chòi tạm của mình để đánh bài. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo N thu xâu được 100.000 đồng, mua bài hết 40.000 đồng. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị thu giữ 330.000 đồng trên người, trong đó 270.000 đồng là tiền của bị cáo N không sử dụng vào đánh bạc.
- Bị cáo Trần Thị Tuyết N1 khai: Bị cáo Tuyết N1 mang theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo Tuyết N1 thua hết 500.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Thị N2 khai: Bị cáo N2 mang theo số tiền 150.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo N2 thắng 2.800.000 đồng, đưa tiền xâu 50.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Thị N, bị thu giữ 2.900.000 đồng trên chiếu bạc.
- Bị cáo Nguyễn Anh T2 khai: Bị cáo T2 mang theo số tiền 1.750.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo T2 thua 500.000 đồng, bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc và 1.050.000 đồng trên người.
- Bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 khai: Bị cáo H2 mang theo số tiền 2.100.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo H2 thắng 700.000 đồng, đưa tiền xâu 50.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Thị N, bị thu giữ 2.750.000 đồng trên người.
- Bị cáo Nguyễn Thị T3 khai: Bị cáo T3 mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo T3 thắng 900.000 đồng, bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc và 3.700.000 đồng trên người.
- Bị cáo Nguyễn Thị Kim H4 khai: Bị cáo H4 mang theo số tiền 2.500.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo H4 thua 2.000.000 đồng, bị thu giữ 500.000 đồng trên chiếu bạc.
- Bị cáo Nguyễn Thị H6 khai: Bị cáo H6 mang theo số tiền 2.150.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo H6 thua 1.700.000 đồng, bị thu giữ 200.000 đồng trên chiếu bạc và 250.000 đồng trên người.
- Bị cáo Lê Chí H5 khai: Bị cáo H5 mang theo số tiền 1.100.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo H5 huề, bị thu giữ 1.100.000 đồng trên chiếu bạc.
- Bị cáo Nguyễn Thị Kim N10 khai: Bị cáo N10 mang theo số tiền 400.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo N10 thắng 300.000 đồng, bị thu giữ 700.000 đồng trên chiếu bạc.
Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị Kim H4, Lê Chí H5, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim N10, Trần Thị Tuyết N1 là 13.610.000 đồng (trong đó: Tiền thu trên chiếu bạc là 5.800.000 đồng và thu trên người bị cáo dùng để đánh bạc gồm: 2.750.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2, 1.050.000 đồng của bị cáo Nguyễn Anh T5, 250.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị H6, 3.700.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị T3, 60.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị N).
- Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 68G1-886.09 do ông Lê Văn N8 đứng tên đăng ký sở hữu. Ông N8 không biết bị cáo Lê Chí H5 sử dụng đi đánh bạc.
- Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 68G2-064.63 do bà Nguyễn Thị Kim H9 đứng tên đăng ký. Bà H9 không biết bị cáo Nguyễn Thanh M1 H2 mượn xe để đi đánh bạc
Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B xử lý vật chứng giao trả: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 68G1-886.09 cho ông Lê Văn N8, 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 68G2-064.63 cho bà Nguyễn Thị Kim H9; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S màu đen, gắn sim số 0348595427 cho bị cáo Lê Chí H5; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 màu đen, gắn sim số 0877193273 cho bị cáo Nguyễn Thị Kim H4; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, gắn sim số 0705044757 cho bị cáo Nguyễn Thị N.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như Cáo trạng số188/CT-VKS- BC ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N1 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N2 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Thư t 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T3 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H4 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H6 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Chí H5 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N10 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
* Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 13.610.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Itel của bị cáo Nguyễn Thị T3; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen của bị cáo Nguyễn Thị N2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 của bị cáo Trần Thị Tuyết N1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của bị cáo Nguyễn Anh T2 dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm vải nhung, màu xám, kích thước 1,4m x 1,4m; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 bộ bài tây 52 lá chưa sử dụng; 01 sim số 0388179482 của bị cáo T3; 01 sim số 0968383746 của bị cáo N2; 01 sim số 0363036072 của bị cáo Trần Thị Tuyết N1; 01 sim số 0326638389 của bị cáo T2.
- Quản thủ thi hành án: Số tiền 270.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị N;
Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Kim L3 trình bày: Xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số: 68G2-064.63 do bà đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 23/3/2024 bà có cho chú của bà là bị cáo Nguyễn Thanh M1 H2 mượn xe để đi công việc nhưng bà không biết bị cáo sử dụng để đi đánh bạc. Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố B đã giao trả cho bà xe mô tô trên. Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Văn N8 trình bày: Xe môtô nhãn hiệu Vario màu trắng đen biển số 68G1-886.09 do ông N8 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Khoảng 13 giờ ngày 20/3/2024 ông có giao xe trên cho con trai ông là bị cáo Lê Chí H5 sử dụng nhưng ông không biết bị cáo sử dụng để đi đánh bạc. Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố B đã giao trả cho ông xe mô tô trên. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã tóm tắt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm theo quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 12 giờ 20 phút đến 13 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, tại căn chòi tạm thuộc ấp (nay là khu phố ), xã (nay là phường) A, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương do bị cáo Nguyễn Thị N quản lý sử dụng, bị cáo Nguyễn Thị N đã có hành vi tổ chức cho các bị cáo Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị Kim H4, Lê Chí H5, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim N10 và Trần Thị Tuyết N1 đánh bạc dưới hình thức chơi bài “Binh Ấn Độ” thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu tiền xâu. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang các bị cáo Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thanh Minh H2, Lê Chí H5, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Kim N10 cùng tang vật với số tiền dùng để đánh bạc là 13.610.000 đồng.
[3] Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N tuy không tham gia đánh bạc và rủ rê các bị cáo khác đánh bạc nhưng có hành vi cho bị cáo khác mượn chồi, lấy tấm vải nhung trải xuống nền, lấy bộ bài tây mua sẵn đưa cho bị cáo T2 làm cái và thu tiền xâu nhưng do chưa đủ định lượng của tội tổ chức đánh bạc nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội đánh bạc với vai trò giúp sức. Vì vậy, Cáo trạng số 188/CT- VKS- BC ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng để nhận thức được đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh trật tự an toàn xã hội, chỉ vì ham lợi, mong muốn kiếm tiền nhanh không phải mất nhiều công sức lao động mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đánh bạc là một tệ nạn đang bị xã hội lên án, là một trong những nguyên nhân kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương xảy ra vụ án. Về
nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi đánh bạc là trái pháp luật nhưng vì ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Do đó, cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:
[5.1] Các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị H6, Lê Chí H5 và Nguyễn Thị Kim N10 phạm tội lần đầu và thuộc tường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng (ông nội là liệt sĩ). Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Trước thời điểm xảy ra hành vi phạm tội, các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị H6, Lê Chí H5 và Nguyễn Thị Kim N10 có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Thị Minh H10 có nhân thân xấu.
[8] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, những người tham gia đánh bạc đều giữ vai trò thực hành. Đối với bị cáo Nguyễn Thị N tuy không tham gia đánh bạc nhưng có hành vi cho bị cáo khác mượn chồi, lấy tấm vải nhung trải xuống nền, lấy bộ bài tây mua sẵn đưa cho bị cáo T2 làm cái và thu tiền xâu nhưng do chưa đủ định lượng của tội tổ chức đánh bạc nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội đánh bạc với vai trò giúp sức.
[9] Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm về an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm răng đe giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc không lớn nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn có khả năng tự cải tạo và không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại điều 35 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo H2.
[10] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt chính tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[11] Về xử lý tiền đặt bảo đảm: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim H4 và Lê Chí H5 bị xử phạt tiền nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên hủy Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm số 1138/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim H4; hủy Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm số 1139/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị cáo Lê Chí H5 đồng thời tuyên trả lại số tiền bảo đảm cho người thân thích của các bị cáo có đơn yêu cầu đặt tiền bảo đảm theo Điểm đ Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07 tháng 08 năm 2018 giữa Bộ C1 - Bộ Q1 - Bộ T7 - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm.
[12] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[12.1] Đối với 01 tấm vải nhung; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng. Xét thấy, đây là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, là vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
[12.2] Đối với số tiền Việt Nam 13.610.000 đồng (gồm 5.800.000 đồng thu trên chiếu bạc và thu trên người bị cáo Nguyễn Thanh M1 H2 số tiền 2.750.000 đồng, bị cáo Nguyễn Anh T2 số tiền 1.050.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị H6 số tiền 250.000, bị cáo Nguyễn Thị T3 số tiền 3.700.000 đồng và bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 60.000 đồng). Xét, đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội hay có được từ việc phạm tội nên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[12.3] Đối với số tiền 270.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N. Do không có căn cứ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội hay tiền bị cáo có được từ việc phạm tội nên cần giao trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên để đảm bảo cho việc thi hành án của bị cáo, cần quản thủ số tiền nêu trên.
[12.4] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel của bị cáo T3; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen của bị cáo N2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 của bị cáo Trần Thị Tuyết N1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của bị cáo T2. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[12.5] Đối với 01 sim số 0388179482 của bị cáo T3; 01 sim số 0968383746 của bị cáo N2; 01 sim số 0363036072 của bị cáo Trần Thị Tuyết N1; 01 sim số 0326638389 của bị cáo T2. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, căn cứ điều luật, xử lý vật chứng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị H6, Lê Chí H5 và Nguyễn Thị Kim N10 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N1 số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N2 số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Minh H2 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 23/3/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T3 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim H4 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H6 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Chí H5 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N10 số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
3. Về biện pháp ngăn chặn:
- Căn cứ Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07 tháng 08 năm 2018 giữa Bộ C1 - Bộ Q1 - Bộ T7 - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm: Tuyên hủy Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm số 1138/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim H4; hủy Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm số 1139/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị cáo Lê Chí H5.
+ Trả lại cho ông Nguyễn Minh T6, sinh năm 1991; Căn cước công dân số [...] Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01 tháng 4 năm 2021; nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang số tiền đã đặt bảo đảm là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng theo giấy nộp tiền ngày 19/4/2024 tại tại Ngân hàng N11 – Chi nhánh thành phố B.
+ Trả lại cho ông Nguyễn Minh T6, sinh năm 1991; Căn cước công dân số [...] Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01 tháng 4 năm 2021; nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang số tiền đã đặt bảo đảm là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng theo giấy nộp tiền ngày 19/4/2024 tại tại Ngân hàng N11 – Chi nhánh thành phố B.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Hủy biên pháp ngăn chặn với các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Thị T3,Nguyễn Thị H6, Nguyễn Thị Kim N10 theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 79,80,81,82,83,84,85,86/LCĐKNCT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái tấm vải nhung, màu xám kích thước (1,4 x 1,4) m; 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng; 01 (một) sim số 0388179482; 01 (một) sim số 0968383746; 01 (một) sim số 0363036072; 01 (một) sim số 0326638389.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 13.610.000 (mười ba triệu sáu trăm mười ngàn) đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen (máy bị nứt rịa màn hình, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu S3 A13 (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro (không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
- Quản thủ để đảm bảo cho việc thi hành án đối với số tiền: 270.000 (hai trăm bảy mươi ngàn) đồng của bị cáo Nguyễn Thị N.
(Theo Giấy nộp tiền ngày 18/7/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nộp vào tài khoản 39490104635 mở tại Kho bạc Nhà nước thành phố B, tỉnh Bình Dương và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Thanh Minh H2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị H6, Lê Chí H5 và Nguyễn Thị Kim N10, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị Kim H9) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/8/2024).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Lê Văn N8) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Quang Bảo |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N + ĐP
