Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 210/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 232/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2023/QĐXXST-HS ngày 07/12/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/HSST-QĐ ngày 18/12/2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Châu Tước C, sinh năm 1989; tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ĐKHKTT: SỐ 22/11, khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị Thu H; vợ: Lê Thị Ngọc B, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án (02): Ngày 01/11/2019, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 312/2019/HS-ST; Ngày 14/11/2019, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 201/2019/HS-ST; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 03/3/2010, Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 40/2010/HSST; Ngày 03/4/2019, Ủy ban nhân dân phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 171/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/7/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
  2. Họ và tên: Lê Chí H1, sinh năm 1997; tại: Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: SỐ C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng D và bà Trần Kim D1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 23/12/2016, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 382/2016/HSST; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/7/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số B, đường N, Tổ E, Khu I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số B, đường N, Tổ E, Khu I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Châu Tước CLê Chí H1 có quan hệ là anh vợ, em rể. Khoảng 15 giờ ngày 09/7/2023, trong lúc cả hai đang ở quán cà phê (hiện chưa xác định tên quán và địa chỉ cụ thể) trên địa bàn phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì C nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người dân để sơ hở nhằm lấy trộm đem đi bán lấy tiền tiêu xài nên rủ H1 cùng thực hiện; H1 đồng ý. Lúc này, C đưa xe mô tô hiệu Honda Vision (không rõ biển số do C mượn của người bạn tên T2, hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể) cho H1 điều khiển chở C ngồi phía sau đi qua các tuyến đường thuộc địa bàn phường P để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày 09/7/2023, khi cả hai đi ngang qua địa chỉ nhà số B, đường N, tổ E, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì CH1 nhìn thấy trước nhà có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu vàng-nâu, biển số 61B1-705.58 của ông Nguyễn Văn T1, (nhưng cho cháu là Nguyễn Duy T mượn làm phương tiện lưu thông tại thời điểm nêu trên), nên C kêu H1 dừng xe trước cổng và cảnh giới còn C đi đến xe mô tô biển số 61B1-705.58 để lấy trộm. Lúc này, C thấy yên xe không khóa nên mở ra thì nhìn thấy có chìa khóa xe phía bên trong nên lấy ra cắm vào ổ khóa xe rồi lên xe mô tô biển số 61B1-705.58 nổ máy và cả hai cùng chạy đến nhà của người bạn tên C1 (chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch), địa chỉ tại số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để cất giấu. Tại đây, C tháo biển xe mô tô trộm được và đã ném bỏ biển số xe trên khi đang trên đường đi trả xe cho T2 (hiện không thu hồi được).

Đối với ông Nguyễn Văn T1, đến khoảng 17 giờ cùng ngày 09/7/2023 đã đến Công an phường P trình báo sự việc đồng thời anh T1 cho biết 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, biển số 61B1-705.58 bị lấy trộm có gắn định vị di chuyển thông qua hệ thống điện thoại của anh T1. Do đó, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường P phối hợp với Công an phường B kiểm tra hành chính tại nhà số B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện 01 xe nhãn hiệu Honda SH Mode, màu vàng-nâu, không có biển số được để trong nhà và phát hiện 02 đối tượng Châu Tước CLê Chí H1 đang ở đây nên mời cả hai về trụ sở để làm việc. Tại trụ sở Công an phường B, CH1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Sau đó, Công an phường BCông an phường P chuyển hồ sơ vụ việc và các đối tượng CH1 cùng vật chứng đã thu giữ là: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu vàng-nâu, không có biển số, đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, bị can C giao nộp các vật chứng gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 61B1-705.58 đứng tên Nguyễn Văn T1; 01 Chứng minh nhân dân; 01 Thẻ căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 đều đứng tên Nguyễn Duy T.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 226/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu vàng-nâu, không có biển số, trị giá : 38.000.000đ (ba mươi tám triệu đồng).

Ngày 19/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu vàng-nâu, không có biển số; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 61B1-705.58 cho anh Nguyễn Văn T1 và 01 Thẻ căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 cho anh Nguyễn Duy T theo Quyết định xử lý vật chứng số 79/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 14/8/2023 (Đối với biển số 61B1-705.58 bị mất, không thu hồi được thì ông T1 không yêu cầu gì khác).

Cáo trạng số 216/CT-VKSTDM ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Châu Tước C, Lê Chí H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Châu T3 Chinh mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Chí H1 mức hình phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp: Không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đồng thời không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Cả hai bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, Châu Tước C, Lê Chí H1 có hành vi lén lút lấy trộm của bị hại Nguyễn Duy T 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH Mode có trị giá 38.000.000đ (ba mươi tám triệu đồng). Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  3. [3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Vụ án mang tính chất đồng phạm, trong đó Châu Tước C đóng vai trò chủ yếu, là người nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm, rủ H1 cùng thực hiện đồng thời cũng là đối tượng trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Do đó, mức hình phạt của C phải cao hơn bị cáo H1.
  4. [4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên đã phạm vào tình tiết “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  5. [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; tài sản bị chiếm đoạt được thu hồi và hoàn trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  6. [6] Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra cũng như nhân thân của bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
  8. [8] Về biện pháp tư pháp: Không có.
  9. [9] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Châu Tước C, Lê Chí H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. 2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Châu T3 Chinh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2023.
    2. 2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Chí H1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/7/2023.
  3. 3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. 4. Về biện pháp tư pháp: Không có.
  5. 5. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 210/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: C cùng đồng phạm trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger