Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TC

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 210/2024/HSST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Duôi và ông Hà Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại D Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn D

Lò Văn D, tên gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản S, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Phủ (đã chết) và bà Lò Thị Xuân, sinh năm 1958; bị cáo chư có vợ, con; tiền án: không, tiền sự: Tại Quyết định số 123/QĐ-XPHC ngày 02 tháng 8 năm 2018 bị Công an huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mức phạt tiền là 1.500.000 đồng (Lò Văn D chưa nộp phạt); bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 7 năm 2024. Có mặt.

Bị hại:

Anh Hà Văn H, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2006. Nghề nghiệp: Không. Nơi cư trú: bản Nam Tiến, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Hà Văn N, sinh năm 1975; nơi cư trú: bản Nam Tiến, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 40 phút, ngày 17/7/2024, tổ công tác Công an xã B, huyện TC đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nam Tiến, xã B, huyện TC, tỉnh Sơn La thì có người dân xung quanh hô hào có một nam thanh niên lạ mặt thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tổ công tác phối hợp với người dân phát hiện và bắt quả tang Lò Văn D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là một chiếc xe máy.

Vật chứng thu giữ: Một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88.

Cùng ngày 17/7/2024, Công an xã B, huyện TC dẫn giải Lò Văn D cùng vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra tại Công an huyện TC và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 17/7/2024 Lò Văn D bắt xe khách từ bến xe thành phố Sơn La để về huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, xe khách đi đến khu vực bản Nam Tiến, xã B, huyện TC, do Lò Văn D không có tiền để trả tiền vé xe nên nhà xe cho Lò Văn D xuống xe. Sau khi xuống xe, do không có tiền trong người nên Lò Văn D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó Lò Văn D đi bộ một mình trên đường QL6A theo tuyến đường TC- thành phố Sơn La. Lò Văn D đi được khoảng 20m thuộc khu vực bản Nam Tiến, xã B, huyện TC thì thấy bên pH đường có một quán bi-a, D thấy bên trong quán có nhiều người đang chơi bi-a, bên ngoài có nhiều xe máy đang dựng trước cửa quán. Lúc này D thấy có một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88 đang dựng trước cửa quán, đầu xe hướng vào bên trong quán, đuôi xe hướng ra ngoài đường Quốc Lộ, trong ổ khóa có chìa khóa xe cắm sẵn nên D đã quyết định thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe trên để làm phương tiện đi về nhà. D đi đến gần vị trí chiếc xe đang dựng, lợi dụng không có ai trông coi, quan sát, chú ý, D ngồi lên xe và dùng hai tay cầm vào tay lái, dùng mũi chân trái bấm một lần vào cần số của xe để hộp số về số 0 (N). Sau đó kết hợp hai chân của D đẩy lùi chiếc xe về phía sau khoảng 2m, D tiếp tục dùng tay vặn chìa khóa đang cắm sẵn ở ổ khóa xe và bấm nút khởi động nhiều lần nhưng không được. D đang tìm cách khởi động xe thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

Ngày 22/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện TC đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện TC, định giá tài sản đối với: Một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88.

Kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐG ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện TC kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88 là 8000.000 đồng (tám triệu đồng).

Tại Cáo trạng số: 155/CT- VKS-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội.

2

Trong phần tranh luận, đại D Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 12 (mười hai) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Chấp nhận bị hại anh Hà Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.

Chấp nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC đã trả lại một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88 cho anh Hà Văn H.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn D thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại D Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại phiên tòa, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại là người dưới 18 tuổi, đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử (ngày 25/9/2024) bị hại là người đủ 18 tuổi. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục tố tụng thông thường.

[2] Bị cáo Lò Văn D khai nhận: Ngày 17/7/2024 bị cáo Lò Văn D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88 trị giá 8.000.000 đồng (tám triệu đông) của anh Hà Văn H với mục đích để làm phương tiện đi về nhà.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 17/7/2024, lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/7/2024, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 24/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện TC và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn D đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo Lò Văn D là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo pH hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự chưa được xóa.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4

[5] Đại D Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình đối với bị cáo Lò Văn D: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là căn cứ để miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn D.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Hà Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì là có căn cứ cần chấp nhận, căn cứ Điều 48; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

[7] Vật chứng vụ án: Đối với một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88, ngày 23/8/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC đã trả lại cho anh Hà Văn H. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị hại, việc cơ quan điều tra trả lại tài sản là có căn cứ đúng pháp luật cần chấp nhận.

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lò Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận bị hại anh Hà Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Chấp nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

5

3. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại anh Hà Văn H một chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu nâu, BKS: 26AA-273.88.

4. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại anh Hà Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn N được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Thuận Châu (02 bản);
  • - CA huyện TC;
  • - Chi cục THADS huyện TC;
  • - Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Mai Xiêng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 210/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 210/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger