|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 210/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tú
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Phương Nam và bà Bùi Lê Phương Thảo.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Thọ, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thị Kim H (tên gọi khác: T), sinh ngày 25/5/1980 tại tỉnh Đắk Lắk;
nơi ĐKTT: Thôn H, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: Số C đường T, phường G, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần X (đã chết) và bà: Phan Thị M (đã chết); chồng: Hồ Thiện T1, sinh năm 1977; con: Có 02 con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2006); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu.
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sinh sống với gia đình, học hết lớp 6/12 thì nghỉ học và buôn bán.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/4/2024, đến ngày 10/5/2024 được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: Số B đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/9/2023, Trần Thị Kim Hồng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75E1-138.51 đến cửa hàng M1 tại số B đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để hỏi mua vàng. H yêu cầu nhân viên là chị Nguyễn Thị Ngọc L đưa một số dây chuyền vàng cho mình xem. Lợi dụng sơ hở của chị L nên H lén lút lấy trộm 01 sợi dây chuyền vàng bỏ vào túi áo đang mặc trên người mình. Tiếp đó, H mua 01 sợi dây chuyền vàng và thanh toán tiền cho chị L rồi đi ra khỏi cửa hàng để về nơi tạm trú của mình tại phường V, thành phố H.
Sau khi H rời khỏi cửa hàng, chủ cửa hàng là bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Văn T2 nghi ngờ H lấy trộm dây chuyền vàng nên đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an. Lúc này, Trần Thị Kim H nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát giác nên đến cửa hàng M1 để trả lại dây chuyền vàng đã lấy trộm.
Tại Kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng trong niêm phong gửi giám định có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng của từng kim loại như sau: vàng là 61,0%, đồng là 22,4% và bạc là 16,6%; khối lượng mẫu là 7,25 gam.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1089/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định 01 sợi dây chuyền có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (A) trị giá 6.627.854 đồng.
Vật chứng tạm giữ:
- - 01 hóa đơn mua bán vàng ngày 12/9/2023 của cửa hàng "Minh Đ".
- - 02 tem dây chuyền vàng của cửa hàng "Minh Đ".
- - 01 sợi dây chuyền vàng.
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 75E1-138.51.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
- - 01 USB chứa dữ liệu về vụ án.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 75E1-138.51 cho ông Hoàng Văn T3 và 01 sợi dây chuyền vàng cho bà Nguyễn Thị Bích V.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Bích V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKSTPH ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Kim H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật
- - Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo cho bị cáo Trần Thị Kim H. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 hóa đơn mua bán vàng ngày 12/9/2023 của cửa hàng "Minh Đ", 02 tem dây chuyền vàng của cửa hàng "Minh Đ" và 01 USB chứa dữ liệu về vụ án.
- - Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, đã có cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/9/2023, tại cửa hàng M1 ở số B đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị Kim H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 dây chuyền vàng trị giá 6.627.854 đồng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích V và ông Nguyễn Văn T2. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố Trần Thị Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Trần Thị Kim H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tham lam, vụ lợi, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt; không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả trả lại dây chuyền vàng cho bị hại, lần phạm tội này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,
3
được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần cho bị cáo được hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo răn đe và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 xe mô tô biển số 75E1-138.51 và 01 sợi dây chuyền vàng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hoàng Văn T3 và cho bà Nguyễn Thị Bích V.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo của bị cáo Trần Thị Kim H do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 hóa đơn mua bán vàng ngày 12/9/2023 của cửa hàng "Minh Đ", 02 tem dây chuyền vàng của cửa hàng "Minh Đ" và 01 USB chứa dữ liệu về vụ án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim H (Tên gọi khác: T) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị Kim H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Kim H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55 màu xanh.
4
(Vật chứng trên được xác định theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 hóa đơn mua bán vàng ngày 12/9/2023 của cửa hàng "Minh Đ", 02 tem dây chuyền vàng của cửa hàng "Minh Đ" và 01 USB chứa dữ liệu về vụ án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Trần Thị Kim H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Tú |
5
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim Hồng
