|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 210/2024/HS-ST. Ngày: 21/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Quốc Hưng;
Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đ – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 201/2024/TLST-HS ngày 19/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Lê Phúc Đ1, sinh ngày 08/01/2007. Nơi thường trú: 155/16/3 đường T, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không. Cha tên Trần Lương Quốc D, sinh năm 1979; Mẹ tên Lê Thị Thu V, sinh năm 1977. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/01/2024 (có mặt).
- Họ và tên: Vũ Hoàng P, sinh năm 2005. Nơi cư trú: 14/1 Đường B, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Không. Cha tên Vũ Văn K, sinh năm 1961; Mẹ tên Huỳnh Thị H, sinh năm 1969. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/01/2024 (có mặt).
- Người đại diện của bị cáo chưa thành niên: Bà Lê Thị Thu V, sinh năm 1977. Địa chỉ: 1 đường T, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bào chữa chỉ định của bị cáo chưa thành niên: Ông Nguyễn Thanh G - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T. Địa chỉ: D đường N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị hại: Ông Huỳnh Đông H1, sinh năm 2007 Địa chỉ: E Đường C phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2024, Trần Lê Phúc Đ1 điều khiển xe môtô biển số 59X2-866.45 chở phía sau Vũ Hoàng P đến Khu đô thị V thuộc Khu phố E, phường H, thành phố T để chơi. Tại đây, Đ1 rủ P đi tìm xe môtô sơ hở lấy trộm để sử dụng, P đồng ý. Khi Đ1 và P đi đến khu vực bờ kè, trước nhà số E, Đường B, Khu đô thị V thì nhìn thấy xe môtô biển số 92MA-012.25 của anh Huỳnh Đông H1 đang dựng trên lề đường, không khóa cổ, không có người trông coi. Đ1 lén lút đến gần sau đó dắt xe môtô biển số 92MA-012.25 đi cách chỗ dựng xe khoảng 100m thì dừng lại để P ngồi lên xe môtô này, còn Đ1 điều khiển xe môtô biển số 59X2-866.45 dùng chân đẩy xe môtô biển số 92MA-012.25 đi ra khỏi Khu đô thị V sau đó ghé vào 01 tiệm sửa xe trên đường T, phường T (không nhớ rõ tên tiệm) nhờ kích nổ máy xe môtô biển số 92MA-012.25 rồi cả 02 đi về nhà của P tại địa chỉ 155/16/3, đường T, Khu phố D, phường L, thành phố T. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày, anh H1 phát hiện bị mất xe nên đã đến Công an phường trình báo sự việc. Đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc Đ1 điều khiển xe môtô biển số 59X2-866.45 và P điều khiển xe môtô biển số 59X2-866.45 đi đến trước nhà số G đường T, Khu phố D, phường T thì bị Công an phường H phát hiện mời về trụ sở Công an làm việc. Test ma túy đối với Trần Lê Phúc Đ1 và Vũ Hoàng P, kết quả: Âm tính.
Khám xét nơi ở của Trần Lê Phúc Đ1, thu giữ được 01 cặp bửng màu đỏ, 01 yếm nhựa và 01 baga inox của xe môtô biển số 92MA-012.25. Khám xét nơi ở của Vũ Hoàng P không thu giữ được gì.
Quá trình điều tra, Đ1 và P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu khác thu thập được.
Kết luận định giá tài sản số 91-KV3/KLÐG-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự thành phố T xác định: 01 xe môtô biển số 92MA-012.25 trị giá 10.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe môtô biển số 92MA-012.25, Cơ quan Điều tra đã trả chủ sở hữu.
- - 01 clip ghi cảnh P, Đ1 trộm cắp xe môtô biển số 92MA-012.25;
- - 01 xe môtô biển số 59X2-866.45. Qua xác minh do chị Lê Thị Thu V (mẹ Đ1) là chủ sở hữu. Ngày 23/01/2024, Đ1 tự ý lấy xe môtô trên để đi chơi sau đó sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy chị V không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại xe môtô trên cho chị V.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 210/CT-VKS-TPTĐ ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Lê Phúc Đ1, Vũ Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây viết là BLHS).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng.
- Các bị cáo P, Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thống nhất với nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1 – bà Lê Thị Thu V trình bày: Tôi không có ý kiến gì liên quan đến vụ án, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho con trai – Trần Lê Phúc Đ1 để con sớm trở về với gia đình. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng trên của vợ chồng ông.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Lê Phúc Đ1, Vũ Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 xử phạt bị cáo Vũ Hoàng P từ 09 tháng đến 12 tháng tù; căn cứ Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101, khoản 1 Điều 173 xử phạt bị cáo Trần Lê Phúc Đ1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về vật chứng, án phí đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
- Bị cáo P không có ý kiến tranh luận, đồng ý với bản luận tội và mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo Đ1 - ông Nguyễn Thanh G trình bày: Về phần tội danh, người bào chữa thống nhất với kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và quan điểm truy tố của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, cần lưu ý Hội đồng xét xử một số nội dung sau: Nguyên nhân cũng như mục đích phạm tội của bị cáo Đ1 là do nhất thời; bị cáo Đ1 là người chưa thành niên, suy nghĩ còn bốc đồng; hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất đặc biệt, cha mẹ ly hôn khi bị cáo còn rất nhỏ do đó bị cáo thiếu sự yêu thương đầy đủ từ cha mẹ; bị cáo cũng là người khó khăn trong việc nhận thức so với người bình thường; bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội. Do đó, tôi đề nghị cho bị cáo Đ1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Đồng thời, bị cáo Đ1 là người chưa thành niên phạm tội nên cần được áp dụng sự khoan hồng của pháp luật khi định lượng hình phạt cho bị cáo. Tôi thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, tuyên phạt bị cáo Đ1 mức án 06 tháng tù.
- Bị cáo Đ1 đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận thêm.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, trở thành người có ít cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo chưa thành niên không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo, của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vì cần tiền tiêu xài cá nhân, vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2024, tại nhà số E Đường B, Khu đô thị V, phường H, thành phố T, các bị cáo P, Đ1 đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số 92MA-012.25 của anh Huỳnh Đông H1. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.500.000 đồng.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn. Xét hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhanh chóng nên đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi vi phạm như trên. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Các bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh theo điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt nên cần cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ1 chưa đủ 18 tuổi (thuộc trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi), do đó khi xem xét mức hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử ngoài căn cứ các tình tiết nêu trên thì cần xem xét áp dụng các điều luật quy định tại Mục 1 Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo đúng quy định.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp nhất.
[4] Xét ý kiến tranh luận của người bào chữa: Đối với những tình tiết giảm nhẹ mà người bào chữa đề nghị là phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên có cơ sở chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: 01 chiếc xe mô tô biển số 92MA-012.25. Xét thấy, đây là tài sản của bị hại nên Cơ quan điều tra đã trả lại, việc giao trả không ai khiếu nại và phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- - Đối với: 01 chiếc xe mô tô biển số 59X2-866.45, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Lê Thị Thu V (mẹ bị cáo Đ1), việc bị cáo Đ1 tự ý lấy xe đi chơi sau đó thực hiện hành vi phạm tội bà V không biết, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị V. Xét thấy, việc giao trả không ai khiếu nại và phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- - Đối với: 01 clip ghi cảnh Đ1, P trộm cắp, tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đ1, P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1, người bào chữa của bị cáo Đ1, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Lê Phúc Đ1, Vũ Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Trần Lê Phúc Đ1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án: 01 clip ghi cảnh Đ1, P trộm cắp.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc các bị cáo Trần Lê Phúc Đ1, Vũ Hoàng P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Bị cáo Trần Lê Phúc Đ1, Vũ Hoàng P; người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1; người bào chữa của bị cáo Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Đời |
Bản án số 210/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 210/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Lê Phúc Đạt trộm cắp tài sản
